vanban.org

Bản án 85/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Tân Uyên, tỉnh Bình Dương Tuyên án 20/05/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lê Văn T 01 (Một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 06-11-2019. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự Xử phạt; Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ T
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 85/2020/HS-ST
Ngày 20-5-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ T, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Sơn

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đào Văn Nô;

2. Bà Nguyễn Thị Ngọc Anh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Dung– Thư ký Tòa án nhân dân thị xã T, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã T, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Trương Văn Thế - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 05 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã T, tỉnh Bình Dương tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 84/2020/TLST-HS ngày 23 tháng 4 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 84/2020/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 5 năm 2020 đối với bị cáo:

Lê Văn T, sinh năm 1974 tại Đ; hộ khẩu thường trú: Ấp Thắng Lợi, xã Thạnh Lộc, huyện V, thành phố C; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn X (đã chết) và bà Lâm Thị N, sinh năm 1950; có vợ tên Nguyễn Thị Ngọc Y, sinh năm 1973; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt và bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06-11-2019. Có mặt.

- Người làm chứng: Ông Phạm Hoàng D, sinh năm 1996 và ông Võ Văn Xô, sinh năm 1996. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 05-11-2019, bị cáo Lê Văn T thuê xe Grab đi từ khu phố K, thị xã T, tỉnh Bình Dương đến khu vực ngã tư An Sương (thuộc Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh) tìm một đối tượng (không rõ lai lịch) để mua ma túy về sử dụng. Khi T đến nơi thì gặp người này đang đứng dưới chân Cầu vượt An Sương, T đưa người này 200.000 đồng và người này chỉ T ma túy để dưới cây trụ điện. Sau đó, T đi đến cây trụ điện thì nhìn thấy một bịch nylon kéo dính, bên trong có ba gói nylon hàn kín chứa ma túy đá nên T nhặt lên cất giấu vào túi quần Kaki bên trái T đang mặc và đón xe về nhà. Về đến nhà, T lấy một gói ma túy, tách ra một ít để sử dụng, phần còn lại T hàn kín miệng bao nylon, cất chung với hai gói còn lại để vào túi quần bên trái T đang mặc. Đến 13 giờ 00 phút, ngày 06-11-2019, T đi ra phía sau nhà để sửa chuồng gà thì Phạm Hoàng Diễn và Võ Văn Xô đến chơi và cùng sửa chuồng gà với T. Do trời nóng nên T cởi quần Kaki đang mặc để lên lồng kẽm dùng để nhốt gà. Đến khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, lực lượng Công an phường Khánh Bình tuần tra đến đoạn đường Khánh Bình số 73, khu phố K, phường Khánh Bình, thị xã T, tỉnh Bình Dương thì gặp T, Diễn và Xô có biểu hiện nghi vấn nên kiểm tra và phát hiện ma túy đá trong túi quần Kaki của T. T khai nhận ba túi nylon chứa tinh thể màu trắng được cất giấu bên trong túi quần bên trái quần Kaki là ma túy đá của T mua để sử dụng. Công an tiến hành niêm phong vật chứng và xử lý theo quy định.

Vật chứng thu giữ tại hiện trường gồm: 01 (một) túi vải màu đen; 03 (ba) bịch nylon hàn kín miệng, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng; 01 (một) quần Kaki màu xám của Lê Văn T.

Quá trình điều tra Lê Văn T khai: T đã nhiều lần mua ma túy của người đàn ông (không rõ lai lịch) để sử dụng.

Tại Bản kết luận giám định 830/MT-PC09 ngày 14 tháng 11 năm 2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Dương kết luận: Tinh thể màu trắng gửi giám định có khối lượng 0,5692 gam là ma túy loại Methamphetamine.

Đối với đối tượng tên không rõ nhân thân đã bán ma túy cho T, do chưa xác định được lai lịch nên Cơ quan Điều tra sẽ tiếp tục làm rõ và xử lý sau.

Cáo trạng số 92/CT-VKSTU ngày 21-4-2020 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã T quyết định truy tố bị cáo Lê Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Lê Văn T khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố. Bị cáo khai nhận đã nhiều lần mua ma túy của người đàn ông không rõ nhân thân tại khu vực ngã tư An Sương, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh để sử dụng. Vào ngày 05-11-2019, T tiếp tục mua của người này 200.000 đồng ma túy. Sau đó, T đã tách một bịch nylon chứa ma túy sử dụng được một ít, số còn lại cất giấu trong túi quần kaki bên trái của T đang mặc thì bị Công an tuần tra, kiểm tra phát hiện và bắt quả tang.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa: Giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 và điểm s khoản 1 Điều 51, xử phạt bị cáo Lê Văn T từ 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng đến 02 (Hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về xử lý vật chứng:

Đề nghị tịch thu tiêu hủy lượng ma túy còn lại sau giám định và những vật chứng dùng để thực hiện hành vi phạm tội gồm: 03 bịch nylon hàn kín miệng, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng có khối lượng 0,5692 gam được kết luận là ma túy loại Methamphetamine. Đề nghị tịch thu, tiêu hủy 01 (một) túi vải màu đen; đề nghị tịch thu, tiêu hủy 01 (một) quần kaki màu xám của bị cáo Lê Văn T.

Bị cáo Lê Văn T nói lời nói sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra, Điều tra viên, Viện Kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Người làm chứng ông Phạm Hoàng D và ông Võ Văn X vắng mặt nhưng đã có lời khai trong quá trình điều tra. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự tiến hành xét xử vắng mặt những người làm chứng trên.

Tại phiên tòa, bị cáo Lê Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Ngày 06-11-2019, tại khu vực đường Khánh Bình 73, khu phố K, thị xã T, tỉnh Bình Dương, bị cáo Lê Văn T bị bắt quả tang có hành vi cất giấu ma túy với khối lượng là 0,5692 gam ma túy, loại Methamphetamine với mục đích để sử dụng. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.

Do vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã T truy tố bị cáo Lê Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến hoạt động quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy. Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật, ý thức được tác hại của ma túy đối với xã hội nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện,bất chấp hậu quả. Hiện nay, tình hình tội phạm về ma túy đang diễn ra phức tạp, là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và tội phạm hình sự. Do đó, cần cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo cải tạo, rèn luyện, phấn đấu trở thành công dân có ích. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử xem xét toàn diện tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo để có một hình phạt tương xứng nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng: không.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy đối với khối lượng ma túy còn lại sau giám định là chất cấm lưu thông; 01 (một) túi vải màu đen và 01 (một) quần kaki màu xám của bị cáo dùng để cất giấu ma túy, bị cáo không có yêu cầu nhận lại và không còn giá trị sử dụng.

Đề nghị của kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh, hình phạt đối với bị cáo và biện pháp xử lý vật chứng là phù hợp.

Về án phí: Bị cáo phải nộp theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Lê Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 và điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự

Xử phạt bị cáo Lê Văn T 01 (Một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 06-11-2019.

3. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

Tịch thu, tiêu hủy đối với: 0,5692 gam ma túy loại Methamphetamine đã được niêm phong trong bì thư là đối tượng hoàn trả sau giám định theo Bản kết luận giám định số: 830/MT-PC09 ngày 14-11-2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương; 01 (một) túi vải màu đen (5 x 10 cm); 01 (một) quần kaki màu xám.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 29-4-2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã T, tỉnh Bình Dương).

Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Bị cáo Lê Văn T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

5. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ