- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 3, khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Q…
- Căn cứ chính? Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU TỈNH QUẢNG NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 85/2019/HSST Ngày 22/10/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU - TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Giới
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Bẩy
2. Ông Bùi Quốc Tuấn
- Thư ký phiên toà: Bà Tô Thị Lan Phương - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh: Bà
Lương Thị Thủy - Kiểm sát viên.
Trong ngày tháng năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 85/2019/TLST-HS ngày 13/9/2019, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 83/2019/QĐXXST-HS ngày 07/10/2019, đối với bị cáo: Họ và tên: Nguyễn Văn T; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 02/10/1974, tại huyện K, H;Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú/chỗ ở hiện nay: Tổ 5, khu V, phường M, thị xã Đ, tỉnh Q; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: Lớp 7/10; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Họ và tên cha: Nguyễn Văn K; Sinh năm 1939 (Đã chết); Họ và tên mẹ: Hoàng Thị B; Sinh năm 1941; Anh, chị em ruột: Có 04 người, bị cáo là thứ tư; Vợ: Mai Thu H; Sinh năm: 1980; Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2000, con nhỏ sinh năm 2006.
- Tiền án: Ngày 07/01/2016, Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều xử phạt 42 tháng tù giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 09/02/2018; Tiền sự: Chưa có.
- Nhân thân: +) Năm 1997, Tòa án nhân dân huyện (nay là thị xã) Đông Triều xử phạt 03 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của công dân”.
+) Năm 2002, Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xử phạt 36 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Bị cáo bị bắt quả tang ngày 29/6/2019, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Đông Triều – Có mặt.
-Người làm chứng:
1.Anh Trần Trọng T – Sinh năm 1978, địa chỉ: Khu phố 2, phường M, thị xã Đ, tỉnh Q – Vắng mặt.
2.Anh Trần Mạnh H – Sinh năm: 1978, địa chỉ: Khu C, phường X, thị xã Đ, tỉnh Q – Vắng mặt.
- Người chứng kiến :
1. Anh Nguyễn Thành T – Sinh năm : 1981, địa chỉ : Khu K, phường K, thị xã Đ, tỉnh Q – Vắng mặt.
2.Anh Bùi Văn H – Sinh năm : 1964, địa chỉ : Khu K, phường K, thị xã Đ, tỉnh Q – Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 07 giờ 10 phút ngày 29/6/2019, tại khu K, phường K, thị xã Đ, Công an thị xã Đông Triều kiểm tra, phát hiện bắt quả tang và thu giữ trong túi quần phía trước bên trái của Nguyễn Văn T đang mặc 01 (một) gói giấy vở ô li bên trong có 04 (bốn) gói giấy đều chứa chất bột màu trắng. Ngoài ra, còn thu giữ của T: 02 (hai) chiếc điện thoại di động (nhãn hiệu Nokia và Mobiistar); 01 (một) xi lanh một đầu gắn kim tiêm; 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu SUZUKI biển kiểm soát 14K4 - 0678. (Bút lục số: 40 và 41).
Tại bản Kết luận giám định số 618/GĐMT ngày 01/7/2019, của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Quảng Ninh, kết luận: Chất bột màu trắng có trong 04 gói giấy thu của Nguyễn Văn T là ma túy, loại Heroine, có tổng khối lượng 0,143g (Không phẩy một bốn ba gam). (Bút lục số: 45).
(Heroine là chất ma túy nằm trong danh mục: IA STT 09; Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ Ban hành các danh mục chất ma túy và tiền chất).
Quá trình điều tra, Nguyễn Văn T khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên. Về nguốn gốc ma túy T khai: Sáng 29/6/2019, T đi đến khu vực C, thuộc phường K, thị xã Đ gặp và mua của một người thanh niên không quen biết 04 (bốn) gói Heroine, được gói bằng giấy vở ô li học sinh, với giá 400.000đ (bốn trăm nghìn đồng), sau đó T cất giấu ma túy vào túi quần phía trước bên trái đang mặc, rồi đi tìm nơi sử dụng. Đến khoảng 07 giờ 10 phút cùng ngày, T đi đến đoạn đường liên thôn thuộc khu K, phường K, thị xã Đ, thì bị Công an thị xã Đông Triều phát hiện thu giữ vật chứng. (Bút lục số: 78 và 79).
Bản cáo trạng số 90/CT - VKS - ĐT ngày 12/9/2019 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh truy tố Nguyễn Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c - khoản 1 - điều 249 - Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 15 (mười lăm) đến 18 (mười tám)
.
Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, không tranh luận gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an thị xã Đông Triều, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về việc định tội: Lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau. Lời khai của bị cáo thể hiện: Khoảng 07 giờ 10 phút ngày 29/6/2019, tại khu K, phường K, thị xã Đ, tỉnh Q, Nguyễn Văn T có hành vi tàng trữ trái phép 04 (bốn) gói giấy chứa chất ma túy, loại Heroine, tổng khối lượng là 0,143g (Không phẩy một bốn ba gam), nhằm mục đích sử dụng, thì bị phát hiện, bắt quả tang.
Lời khai của bị cáo còn phù hợp lời khai của người làm chứng là anh Trần Trọng T và anh Trần Mạnh H, phù hợp lời khai của người chứng kiến là anh Nguyễn Thành T và anh Bùi Văn H
thu giữ
chứng và của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với một số tình tiết của vụ án.
Hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm vào tội "T
" quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:
..."1.
trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong những trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: ...
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR – 11 có khối lượng từ 0,1gam đến dưới 05gam.”
Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Hội đồng xét xử đánh giá hành vi phạm tội của bị cáo như sau:
Về khách thể: Hành vi phạm tội của bị cáo xâm phạ N
.
Về chủ thể: Bị cáo là người đã trưởng thành, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.
Về mặt chủ quan: Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý.
Về mặt khách quan: Bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,143g (không phẩy một bốn ba gam) chất ma túy, loại Heroine, mục đích để sử dụng.
,
làm suy giảm sức khỏe, đặc biệt là hủy hoại hệ thần kinh của con người,
lan
HIV/AIDS và là nguyên nhân phát sinh, gia tăng nhiều loại tội phạm, trong khi N
tệ nạn ma túy, thì hành vi mua ma túy để sử dụng cho bản thân của bị cáo là tiếp tay cho tội phạm ma túy. Hành vi phạm tội của bị cáo gây mất an ninh trật tự xã hội nên cần xử phạt nghiêm, phải
xã hội
, thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật, đề cao công tác phòng chống tội phạm.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có một tiền án, ngày 07/01/2016 bị Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều xử phạt 42 tháng tù giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 09/02/2018, lại tiếp tục phạm tội nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; Ngoài ra bị cáo còn có nhân thân xấu: Năm 1997, Tòa án nhân dân huyện (nay là thị xã) Đông Triều xử phạt 03 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của công dân”; Năm 2002, Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xử phạt 36 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thể hiện bị cáo là người khó tiếp thu giáo dục cải tạo, cần xử phạt nghiêm. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên bị quy
s
1 Đ
51
.
: Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 14K4 – 0678, Nguyễn Văn T mượn của anh Trần Mạnh H, anh H không biết T sử dụng xe đi mua ma túy và 02 (hai) chiếc điện thoại di động, không liên quan đến vụ án, ngày 30/8/2019, Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô và điện thoại cho chủ sở hữu. Chiếc bơm kim tiêm Cơ quan điều tra đã tiêu hủy theo quy định; Mẫu vật ma túy thu giữ của bị cáo, cơ quan giám định đã sử dụng hết không hoàn lại mẫu vật nên không xét.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền tuy nhiên xét bị cáo là người nghiện ma túy, không có việc làm, nên miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Liên quan trong vụ án, đối tượng bán ma túy cho bị cáo quá trình điều tra chưa xác định được lai lịch, địa chỉ nên không xử lý. Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 3, khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
1.Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “T
”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 21 (hai mươi mốt) tháng
t
y b
29/6/2019.
2. Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Theo quy định tại Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Ninh; -VKSND tỉnh Quảng Ninh; - VKSND thị xã Đông Triều; - Công an thị xã Đông Triều; - Chi cục THADS thị xã Đông Triều; - Bị cáo; - STP tỉnh Quảng Ninh; - Lưu. Các Hội thẩm nhân dân | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa Nguyễn Văn Giới Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Văn Giới |