- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Minh Đ phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Lu…"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Minh Đ.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 260 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| __________ Bản án số: 85/2019/HS-PT Ngày: 30/7/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Chất.
Các thẩm phán: Ông Nguyễn Huy Hiểu và bà Vũ Thị Yển.
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Mai Trang- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh HảiDương tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Yến - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 7 năm 2019, tại Trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 129/2019/TLPT-HS ngày 28 tháng 6 năm 2019 đối với bị cáo Lê Minh Đ, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 25/2019/HSST ngày 23/5/2019 của Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Hải Dương.
Bị cáo kháng cáo:
Lê Minh Đ, sinh năm 1993 tại Q, quận H, TP Hà Nội; Nơi ĐKHKTT: Số 49, ngõ 167, phố Thanh Nhà, phường Q, quận H, thành phố Hà Hội; Chỗ ở hiện nay: Số nhà 8, ngách 14, ngõ 102, đường L, phường C, TP H, tỉnh Hải Dương; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; có vợ và 01 con; tiền án, tiền sự: Chưa; Nhân thân: Tốt; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Minh Đ có giấy phép lái xe hạng B2, chiều ngày 30/12/2018, Đ điều khiển xe ô tô bán tải nhãn hiệu CHEVROLET biển số 29H-066.65 đi từ xã V, huyện T, Hải Dương sang xã I, huyện N, Hải Dương. Khoảng 15 giờ 20 phút cùng ngày, Đ điều khiển xe đi đến km 2+500 đường tỉnh lộ 390 thuộc địa phận thôn B, xã D, huyện N, tỉnh Hải Dương (đây là đoạn đường được trải nhựa tương đối bằng phẳng, mặt đường rộng 06 mét, bên phải bên trái đường có bờ lốc mép đường cao 15cm rộng 2,5cm bên trái dường hướng thị trấn N đi thôn K, xã I có lối mở vào xóm cây Tùng, thôn T, xã D rộng 4 mest50, hai bên đường là nhà dân sinh sống. Đoạn đường trên không có hệ thống biển báo hiệu giao thong; ở giữa tim đường có vạch kẻ sơn màu vàng đứt đoạn). Đ đã phát hiện bà Triệu Thị L đang đứng ở phía trước sát mép đường bên phải theo chiều xe mình điều khiển và 01 xe đạp mini sơn màu đỏ dựng cạnh đó, nghĩ rằng không thể va chạm ở phía trước đầu xe ô tô bên phải, thấy vậy Đ điều khiển xe ô tô đỗ vào rìa đường và xuống xe kiểm tra thì phát hiện xe ô tô do Đ điều khiển đã đâm vào bà L. Hậu quả bà L bị thương nặng phải đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa huyện N và bị tử vong ngày 30/12/2018. Tại kết luận giám định pháp y số 189/KLGĐ ngày 04/01/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương, kết luận nguyên nhân chết của bà Triệu Thị L: Chấn thương vùng cổ, ngực (gãy xương cột sống cổ, gãy nhiêu xương sườn).
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 25/2019/HS-ST ngày 23/5/2019 của Tòa án nhân dân huyện N đã áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b,s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, Tuyên bố bị cáo Lê Minh Đ phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ,, Xử phạt bị cáo Đ 15 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 29/5/2019 bị cáo Đ kháng cáo xin hưởng án treo.
Tại phiên tòa.
Bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo và đề nghị Tòa án cho hưởng án treo .
Đại diện VKSND tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tại giai đoạn phúc thẩm bị cáo tự nguyện nộp tiền án phí sơ thẩm, phát hiện và tố giác tội phạm được cơ quan điều tra xác nhận, nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, do vậy đề nghị HĐXX chấp nhận kháng cáo của bị cáo, xử phạt bị cáo Đ 15 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 tháng từ ngày tuyên án phúc thẩm. Bị cáo không phải chịu án phí phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Kháng cáo của bị cáo trong thời hạn luật định, là kháng cáo hợp lệ nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo, người làm chứng tại giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử sơ thẩm cùng các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án, như vậy có căn cứ kết luận: Khoảng 15 giờ 20 phút ngày 30/12/2018 tại km 2+500 đường tỉnh lộ 390 thuộc thôn B, xã D, huyện N, tỉnh Hải Dương Lê Minh Đ có giấy phép lái xe hạng B2, điều khiển xe ô tô bán tải nhãn hiệu CHEVROLET biển số 29H-066.65 theo hướng thị trấn N đi thôn K, xã I đã phát hiện bà Triệu Thị L đang đứng ở phía trước sát mép đường bên phải theo chiều xe do mình điều khiển nhưng không chú ý quan sát, cho xe đi sát mép đường nơi bà L đang đứng nên phần đầu xe ô tô bên phải đâm vào bà L làm gãy đốt sống cổ, gãy nhiều xương sườn dẫn đến tử vong.
Xét kháng cáo của bị cáo xin hưởng án treo:
Cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng về nhân thân của bị cáo cũng như về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, từ đó quyết định hình phạt đối với bị cáo là phù hợp.
Bị cáo Đ là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ đó là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đã tự nguyện bồi thường cho gia đình người bị hại, đại diện người bị hại có đơn đề nghị miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo, bố đẻ bị cáo được thưởng huy chương chiến sỹ vẻ vang, huy chương vì an ninh tổ quốc nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS. Tại giai đoạn phúc thẩm bị cáo tự nguyện nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm, phát hiện và tố giác tội phạm được cơ quan điều tra TP Hải Dương xác nhận là thể hiện sự ăn năn hối cải muốn lập công chuộc tội, nên bị cáo phát sinh tình tiết giảm nhẹ TNHS mới là tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 BLHS. Xét thấy bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo, có nhiều tình tiết giảm nhẹ TNHS nên HĐXX thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội cũng đủ tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung có hiệu quả. Kháng cáo là có căn cứ, cần sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 25/2019/HSST ngày 23/5/2019của Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Hải Dương về phần hình phạt theo hướng giữ nguyên mức hình phạt tù và cho bị cáo Đ được hưởng án treo.
Về án phí: Bị cáo kháng cáo được chấp nhận nên không phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định.
. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị, Hội đồng xét xử không xét và đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 355, Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự;
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Minh Đ. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 25/2019/HSST ngày 23/5/2019 của Tòa án nhân dân huyện N;
Căn cứ khoản 1 Điều 260, điểm b, s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 65 Bộ luật hình sự; Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 về án phí, lệ phí Toà án.
1.Tuyên bố: Bị cáo Lê Minh Đ phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
2.Xử phạt: Bị cáo Lê Minh Đ 15 (Mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm 30/7/2019.
Giao bị cáo Lê Minh Đ cho Ủy ban nhân dân phường C, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo, cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3.Về án phí: Bị cáo Lê Minh Đ không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án 30/7/2019.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Hải Dương; - Sở TP tỉnh HD; - Phòng HSNV-CA tỉnh HD; - TAND huyện N; - Công an huyện N; - VKSND huyện N; - Chi cục THADS huyện N; - Bị cáo;; - ĐDHP người bị hại; - Lưu Tòa, Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Văn Chất |