vanban.org

Bản án 85/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị N ly hôn với anh Nguyễn Trường V.

Về nuôi con chung: Giao Nguyễn Hoài T (nam), sinh ngày 23-6-2008 cho chị Nguyễn Thị N tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục; không đặt ra nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Anh Nguyễn Trường V không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị N ly hôn với anh Nguyễn Trường V.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN U MINH
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 85/2019/HNGĐ-ST
Ngày 28-8-2019
V/v tranh chấp ly hôn và nuôi con

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Dương Minh Út.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Trung Kiên.

Ông Trịnh Hữu Hiệp.

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Lụa là Thư ký Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Phạm Duy Lễ – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 29/2019/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 02 năm 2019 về tranh chấp ly hôn và nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 108/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 8 năm 2019, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1987 (có mặt).

Nơi cư trú: Ấp 9, xã K, huyện M, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Trường V, sinh năm 1983 (xin vắng mặt).

Nơi cư trú: Ấp 20, xã K, huyện M, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 12-02-2019 và tại phiên tòa, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị N trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị N và anh Nguyễn Trường V tự nguyện xác lập quan hệ hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại UBND xã K, huyện M, tỉnh Cà Mau ngày 25-12-2009. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không hòa thuận và không hợp nhau trong cuộc sống hàng ngày dẫn đến ly thân khoảng 10 năm nay. Nay chị N yêu cầu ly hôn với anh V.

Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Hoài T (nam), sinh ngày 23-6-2008, hiện nay chị N đang nuôi dưỡng. Khi ly hôn, chị N yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng con chung, không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị N xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại văn bản ngày 09-8-2019, bị đơn là anh Nguyễn Trường V trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh V thống nhất với lời trình bày của chị N về thời điểm xác lập quan hệ hôn nhân, hôn nhân tự nguyện và có đăng ký kết hôn. Anh V xác định anh và chị N không có xảy ra mâu thuẫn nhưng vợ chồng đã ly thân hơn 10 năm nên anh không còn tình cảm vợ chồng với chị N. Nay anh V đồng ý ly hôn với chị N.

Về nuôi con chung: Anh V thống nhất như lời trình bày của chị N về con chung. Anh đồng ý giao con cho chị N tiếp tục nuôi dưỡng, không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Anh V thống nhất với lời trình bày của chị N, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại văn bản ngày 16-4-2019 thể hiện: Nguyện vọng của cháu Hoài T muốn sống chung với chị N, vì chị N quan tâm, chăm sóc cho cháu nhiều hơn.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát: Về thủ tục tố tụng dân sự trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa là đúng quy định pháp luật về thủ tục tố tụng giải quyết vụ án dân sự. Bị đơn không chấp hành thủ tục tố tụng dân sự khi Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt. Về nội dung: Áp dụng Điều 56, 81 và 82 của Luật hôn nhân và gia đình. Chấp nhận yêu cầu của chị N ly hôn với anh V. Giao con chung là Nguyễn Hoài T cho chị N tiếp tục nuôi dưỡng; không đặt ra nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Anh Nguyễn Trường V đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt đúng theo quy định pháp luật nên căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt anh V.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị N và anh Nguyễn Trường V tự nguyện xác lập quan hệ hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại UBND xã K, huyện M, tỉnh Cà Mau ngày 25-12-2009 đúng theo quy định tại Điều 11 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị N và anh V được pháp luật công nhận là hôn nhân hợp pháp và bảo vệ.

Xét yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị N, thấy rằng: Tại phiên tòa, chị N khẳng định không còn tình cảm yêu thương anh V nên giữ nguyên yêu cầu ly hôn. Tại văn bản ngày 09-8-2019, anh V thống nhất ly hôn với chị N. Xét thấy, sự tự nguyện ly hôn của các đương sự là phù hợp với quy định pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên được chấp nhận.

Về nuôi con chung: Chị N và anh V thỏa thuận giao con chung tên Nguyễn Hoài T (nam), sinh ngày 23-6-2008 cho chị N tiếp tục nuôi dưỡng. Sự thỏa thuận này phù hợp với ý chí, nguyện vọng của cháu Hoài T và phù hợp với điều kiện sinh hoạt cũng như thu nhập của chị N mỗi tháng 8.000.000 đồng là đảm bảo đáp ứng nhu cầu thiết yếu nuôi dưỡng con nên được chấp nhận. Anh V không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Chị N không đặt ra nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị N và anh V thống nhất xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét trong vụ án này.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị N phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu, theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 4 Điều 147 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng các Điều 51, 56, 81 và 82 của Luật hôn nhân và gia đình;

Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị N ly hôn với anh Nguyễn Trường V.

- Về nuôi con chung: Giao Nguyễn Hoài T (nam), sinh ngày 23-6-2008 cho chị Nguyễn Thị N tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục; không đặt ra nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Anh Nguyễn Trường V không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

- Tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị N và anh Nguyễn Trường V không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Án phí sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị N phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Ngày 13 tháng 02 năm 2019, chị N đã dự nộp án phí 300.000 đồng tại biên lai số 0004189 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện U Minh, tỉnh Cà Mau, được chuyển thu.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Chị Nguyễn Thị N có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Nguyễn Trường V có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết công khai bản án.

Cỡ chữ