vanban.org

Bản án 85/2018/HSST — Hình sự

TAND Quận 10, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 18/10/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Quốc Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc Đ 05 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/3/2018. Phạt bổ sung bị cáo Đ 5.000.000 (năm triệu) đồng nộp ngân sách Nhà nước. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Quốc Đ - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Quốc Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 85/2018/HSST
Ngày 18 - 10 - 2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Triệu Luật.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Kim Dung.

Bà Nguyễn Thị Thu Cúc.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoài Anh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dânQuận 10 tham gia phiên tòa:

Bà Trần Thị Thùy Linh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 18 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 63/2018/TLST-HS ngày 09 tháng 8 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 63.2/2018/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2018 đối với bị cáo:

Nguyễn Quốc Đ; sinh năm: 1980 tại Thanh Hóa; nơi đăng ký HKTT: ấp H, xã M, huyện N, tỉnh Bình Thuận; nơi cư trú: /(không có nơi ở nhất định); nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Xuân N và bà: Trịnh Thị A; có vợ: Mai Thị Thúy K và 01 con sinh năm 2013; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: tốt; bị bắt giữ ngày: 15/3/2018, tạm giữ ngày: 15/3/2018, bị tạm giam ngày: 16/3/2018.

(Bị cáo có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Mai Văn B – Sinh năm: 1962 (vắng mặt). Thường trú: ấp H, xã M, huyện N, tỉnh Bình Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ 00 ngày 14/3/2018, tại trước nhà số 361-363 đường Sư Vạn Hạnh, Phường 12, Quận 10, Tổ tuần tra Đội 1 PC64B - Công an Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành kiểm tra hành chính đối với Nguyễn Quốc Đ, nhưng Đ không xuất trình được giấy tờ nên đưa về trụ sở Công an Phường 12, Quận 10; tại trụ sở Công an Phường 12, Quận 10, thu giữ từ Đ: 04 gói nylon chứa tinh thể không màu, 01 gói nylon chứa chất bột màu trắng, 01 gói nylon chứa hoa, lá, cành khô, 01 xe môtô biển số 86B4-035.02, 01 chiếc cân điện tử, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy, 01 dao xếp bằng kim loại, 01 điện thoại di động hiệu Nokia, 01 điện thoại di động hiệu Iphone, 04 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng. Vụ việc được Công an Phường 12, Quận 10 lập hồ sơ ban đầu, sau đó chuyển đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10 điều tra, làm rõ.

Tại Kết luận giám định số 582/KLGĐ-H ngày 22/3/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận như sau:

- 03 gói niêm phong bên ngoài có in dấu vân tay màu đỏ, các chữ ký ghi tên Nguyễn Quang Minh (Điều tra viên), Lê Duy Hiệp (người chứng kiến), Nguyễn Quốc Đ và hình dấu Công an Phường 12, Quận 10 bên trong có:

+ Gói 1: 04 gói nylon chứa tinh thể không màu là ma túy ở thể rắn có khối lượng 9,1561g loại Methamphetamine;

+ Gói 2: 01 gói nylon chứa chất bột màu trắng là ma túy ở thể rắn có khối lượng 0,0931g loại Ketamine;

+ Gói 3: 01 gói nylon chứa hoa, lá, cành khô có khối lượng 2,4957g không tìm thấy ma túy.

Quá trình điều tra, Đ khai nhận như sau: số ma túy bị thu giữ, Đ mua của một đối tượng tên K (không rõ lai lịch, địa chỉ) vào lúc 17 giờ ngày 12/3/2018 tại khu vực cầu Kiệu, Quận 3 với giá 4.000.000 đồng để sử dụng. Khoảng 23 giờ 00 ngày 14/3/2018, Đ điều khiển xe môtô biển số 86B4-035.02 đến trước số 361-363 Sư Vạn Hạnh, Phường 12, Quận 10 thì bị bắt như đã nêu trên.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10 đã quyết định khởi tố điều tra đối với Nguyễn Quốc Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Đối với chiếc xe môtô biển số 86B4-035.02, qua xác minh được biết do ông Mai Văn B (là cha của chị Mai Thị Thúy K) là chủ sở hữu hợp pháp. Ông B cho chị K và Nguyễn Quốc Đ mượn. Sau đó, Đ dùng vào việc phạm tội. Ông B không biết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10 đã trả lại chiếc xe cho ông B (ông B có ủy quyền cho chị K).

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Nokia, 2.000.000 đồng, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10 giao cho chị Mai Thị Thúy K (là vợ Nguyễn Quốc Đ) quản lý. Còn 01 con dao xếp bằng kim loại, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10 giao cho Đội cảnh sát quản lý hành chính Công an Quận 10 xử lý theo thẩm quyền.

Riêng đối tượng tên K ( không rõ lai lịch, địa chỉ ), Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10 tiếp tục truy xét, khi nào bắt được, sẽ xử lý sau.

Tại bản cáo trạng số 54/CT-VKS ngày 07 tháng 8 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành Phố Hồ Chí Minh đã truy tố Nguyễn Quốc Đ về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa hôm nay:

- Bị cáo Nguyễn Quốc Đ đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như lời khai tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh công bố bản luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo đúng theo nội dung bản cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất và hậu quả của vụ án đối với xã hội, sau khi nêu lên những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo (thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, cha và mẹ của bị cáo là người công với đất nước, được tặng thưởng nhiều thành tích, danh hiệu cao quý); đã đề nghị áp dụng điểm g khoản 2, 5 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 5 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc Đ: từ 05 năm đến 06 năm tù, phạt bổ sung bị cáo từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.

Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp khác: đề nghị Hội đồng xét xử xử lý các vật chứng theo đúng quy định của pháp luật.

- Ý kiến của bị cáo: không có gì tranh luận.

- Lời nói sau cùng của bị cáo: rất hối hận về hành vi của mình, mong Hội đồng xét xử khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên thu thập; do bị can, bị cáo, người tham gia tố tụng khác cung cấp đều thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về những chứng cứ, tài liệu đã thu thập, cung cấp. Do đó, những chứng cứ, tài liệu trong vụ án đều hợp pháp.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng như đã nêu trên. Tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung bị can mà các bị cáo đã trình bày nội dung lời khai là hoàn toàn tự nguyện. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Nhận định hành vi và điều khoản xét xử:

Tại Cơ quan điều tra, cũng như trước phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thừa nhận hành vi của mình, qua lời khai nhận tội của bị cáo, đối chiếu với nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng, bản kết luận giám định, vật chứng cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án là phù hợp, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định bị cáo Nguyễn Quốc Đ phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Ma túy là mối hiểm họa cho gia đình và xã hội, nó đã lây lan và phát triển một cách nghiêm trọng, làm suy đồi và băng hoại nhân cách con người, là một trong những nguyên nhân dẫn đến các tội phạm hình sự khác; trong khi chính quyền nhân dân các cấp đang ra sức thực hiện mục tiêu 3 giảm: “Giảm ma túy, giảm mại dâm, giảm tội phạm”; nhưng bị cáo đã đi ngược lại mục tiêu chung trên, cụ thể: bị cáo đã cất giữ trái phép: 9,1561g loại Methamphetamine và 0,0931 loại Ketamine, nhằm mục đích để sử dụng, chiếu theo danh mục các chất ma túy và tiền chất ban hành theo Nghị định số: 82/2013/NĐ - CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ thì đó là chất ma túy, nên bị cáo bị truy tố và xét xử theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Ngoài ra, áp dụng khoản 5 Điều Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) phạt bổ sung bị cáo một số tiền nộp ngân sách Nhà nước.

Việc áp dụng hình phạt, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Do vậy hành vi phạm tội của bị cáo cần phải bị xử phạt nghiêm minh bằng luật hình với mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cụ thể cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian nhất định để cải tạo giáo dục bị cáo thành người tốt cho xã hội, đồng thời cũng để răn đe, giáo dục đối với những người thực hiện hành vi tương tự, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tệ nạn tại địa phương.

Về tình tiết tăng nặng: không có.

Về tình tiết giảm nhẹ: tuy nhiên xét thấy bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, cha và mẹ của bị cáo là người có công với đất nước (được tăng thưởng huy hiệu 50 năm tuổi Đảng, Huân chương kháng chiến hạng nhất, Huy chương kháng chiến hạng nhất, Huân chương lao động hạng ba, Huy chương “Vì thế hệ trẻ”, Huy chương “Vì sự nghiệp Thương mại”, Huy chương “Vì sự nghiệp giải phóng Phụ nữ”, Huy chương “Vì sự nghiệp xây dựng tổ chức Công đoàn”; do vậy Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) xem xét giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp khác:

Đối với: 01 gói niêm phong (bên trong có chứa tinh thể rắn không màu, bên ngoài có chữ ký của giám định viên và cán bộ điều tra), 01 gói niêm phong (bên trong có chứa chất bột màu trắng, bên ngoài có chữ ký của giám định viên và cán bộ điều tra), là vật lưu hành bất hợp pháp; vậy căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; tịch thu, tiêu hủy.

Đối với: 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone (số thuê bao 0942561680), 01 chiếc cân điện tử; là phương tiện dùng vào việc mua trái phép chất ma túy; vậy căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.

Đối với: 01 gói niêm phong (bên trong có chứa hoa, lá, cành khô, bên ngoài có chữ ký của giám định viên và cán bộ điều tra), 01 bình gas mini, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy; không đáng giá trị; vậy căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; tịch thu và tiêu hủy.

Về án phí sơ thẩm: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Quốc Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Căn cứ vào điểm g khoản 2, 5 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Nguyễn Quốc Đ;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc Đ 05 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/3/2018.

Phạt bổ sung bị cáo Đ 5.000.000 (năm triệu) đồng nộp ngân sách Nhà nước.

Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; tịch thu, tiêu hủy: 01 gói niêm phong (bên trong có chứa tinh thể rắn không màu, bên ngoài có chữ ký của giám định viên và cán bộ điều tra), 01 gói niêm phong (bên trong có chứa chất bột màu trắng, bên ngoài có chữ ký của giám định viên và cán bộ điều tra).

Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone (số thuê bao 0942561680), 01 chiếc cân điện tử.

Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; tịch thu và tiêu hủy: 01 gói niêm phong (bên trong có chứa hoa, lá, cành khô, bên ngoài có chữ ký của giám định viên và cán bộ điều tra), 01 bình gas mini, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy.

(Tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 09/8/2018 giữa Công an Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh và Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh).

- Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc:

- Bị cáo Đ chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm ngàn) đồng.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình.

Thời hạn kháng cáo là 15 ngày; đối với bị cáo tính từ ngày tuyên án; đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa thì tính từ ngày được giao hoặc ngày niêm yết bản án./. Nôi nhaän:

Cỡ chữ