vanban.org

Bản án 85/2018/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình Tuyên án 30/07/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Ngọc H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy

Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt: Bị cáo Phạm Ngọc H 13 (Mười ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ ngày 05/6/2018. Việc xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Ngoc Huy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Ngọc H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ NINH BÌNH
TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 85/2018/HS-ST
Ngày: 30 - 7 - 2018
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Sâm.
Các hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Tươi.
Bà Hoàng Thị Kim Phượng.
Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình.
toà: Ông Trần Đăng Chuẩn - Kiểm sát viên.
Bình, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số:
90/2018/TLST- HS ngày 05 tháng 7 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử
số 81/2018/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 7 năm 2018 đối với bị cáo:
Bình; nơi ĐKHKTT và nơi ở hiện nay: Số nhà 08, ngõ 862, đường T, phố K,
phường T, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do;
trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc
tịch: Việt Nam; con ông: Phạm Đức H và bà: Đặng Thị H; vợ: Nguyễn Thị N; có
2 con: lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không có. Nhân
thân: Ngày 04/02/2009 Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình xử phạt 24 tháng tù
về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; Ngày 03/3/2017 Công an phường Bích Đào
ra quyết định xử phạt 750.000đ về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
giam, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình cho đến
nay (có mặt).
phường N, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình (vắng mặt).
Ngày 30 tháng 7 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Ninh

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt nhau sau:

Phạm Ngọc H là đối tượng nghiện ma túy. Khoảng 12 giờ ngày 05/6/2018 Phạm Ngọc H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honlei, biển kiểm soát 18S9 – 0974 từ công trinh H nhận làm Sơn ở Ninh Khang, Huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình sang khu vực bờ đê sông đáy thuộc thôn Dinh Tần, xã B, Hện Y, tỉnh Nam Định, tìm mua ma túy để sử dụng. Tại đây H gặp và mua 01 gói ma túy của một người đàn ông không quen biết với giá 300.000đồng. Sau khi mua được ma túy, H cầm ở tay trái rồi điều kiển xe mô tô đi về thành phố Ninh Bình tìm nơi sử dụng. Khoảng 12h 30 phút cùng ngày, khi H về đến khu vực đường L, phố 11, phường Đ, thành phố Ninh Bình thì bị tổ công tác Công an phường N phối hợp với Công an phường Đông Thành đang làm nhiệm vụ tại khu vực trên, yêu cầu kiểm tra hành chính. Thấy vậy H đã tự giác giao nộp 01 gói nhỏ gói ngoài bằng túi ni lon màu trắng bên trong là chất tinh thể màu trắng cho tổ công tác và khai nhận đó là ma túy đá H vừa mua với giá 300.000đồng về sử dụng. Tổ công tác đã tiến hành và niêm phong vật chứng theo đúng quy định của pháp luật. Ngoài ra còn thu giữ của H 01 xe mô tô BKS 18S9 – 0974, rồi đưa H cùng tang vật về trụ sở Công an phường N làm việc. Tại Công an phường N, H viết đơn xin tự thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Cơ quan Công an tiến hành cân xác định trọng lượng chất tinh thể màu trắng trong túi nilon thu giữ của Phạm Ngọc H có trọng lượng là 0,265 gam, ký hiệu M gửi giám định xác định loại ma túy, khối lượng chất ma túy.

Tại bản kết luận giám định số 107/KLGĐ- PC54-MT ngày 07/6/2018 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình đã kết luận: “Mẫu chất dạng tinh thể màu trắng ký hiệu M gửi giám định có khối lượng 0,2602 gam là chất ma túy, loại Methamphetamine” (Methamphetamine là chất ma túy thuộc bảng danh mục II có số thứ tự 323; Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính Phủ).

Số ma túy còn lại 0,1978gam cùng giấy gói ban đầu Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình hoàn trả lại mẫu vật Cơ quan CSĐT Công an thành phố Ninh Bình.

Tại bản cáo trạng số 89/CT- VKS ngày 04 tháng 7 năm 2018, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình truy tố bị cáo Phạm Ngọc H ra trước Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình để xét xử về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung bản cáo trạng, không thay đổi bổ sung gì. Căn cứ tính chất mức độ phạm tội của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Phạm Ngọc H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; xử phạt: Bị cáo Phạm Ngọc H từ 12 tháng đến 15 tháng tù; Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 05/6/2018; Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự ; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu huỷ số ma túy còn lại thu giữ của bị cáo Phạm Ngọc H cùng toàn bộ vỏ bao gói ban đầu trong một phong bì đã được niêm phong; Trả lại cho bị cáo Phạm Ngọc H 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honlei BKS 18S9 – 0974. Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo Phạm Ngọc H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố là đúng, không có ý kiến tranh luận gì và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau; phù hợp với lời khai của người làm chứng, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản tiếp nhận người phạm tội ra tự thú, tang vật chứng thu giữ là 01 gói ma túy, biên bản cân xác định trọng lượng, bản kết luận giám định số 107/KLGĐ- PC54-MT ngày 07/6/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình. Từ những chứng cứ nêu trên đã có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 05/6/2018 tại khu vực đường L, phố 11, phường Đ, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình, bị cáo Phạm Ngọc H đã có hành vi cất giữ trái phép 0,2602 gam ma túy, nhằm mục đích sử dụng thì bị phát hiện bắt giữ. Hành vi của bị cáo Phạm Ngọc H đã có đầy đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự .

Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý mà còn làm ảnh hưởng trực tiếp đến trật tự an toàn xã hội, đến sức khoẻ của con người và là nguyên nhân làm phát sinh nhiều tệ nạn xã hội khác….Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, biết rõ việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật. Năm 2009 bị cáo đã bị xét xử về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, nhưng vẫn không chịu sửa chữa, để thoả mãn nhu cầu của bản thân bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội, chứng tỏ bị cáo bất chấp coi thường pháp luật. Để đảm bảo trật tự an toàn xã hội cũng như có tác dụng giáo dục bị cáo thì việc truy tố, đưa ra xét xử buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự là cần thiết, Hội đồng xét xử thấy hành vi, tội danh và điều khoản áp dụng tại bản cáo trạng, lời luận tội, các chứng cứ buộc tội của Kiểm sát viên đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật. Song khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cần xem xét trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, đã tự giác giao nộp gói ma túy cho cơ quan Công an vì vậy bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự .

Căn cứ tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần phải xử phạt bị cáo một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để tạo điều kiện cho bị cáo học tập, lao động, cải tạo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Xét hành vi tàng trữ ma túy của bị cáo chỉ nhằm mục đích sử dụng cho bản thân, không mang tính chất vụ lợi. Vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Việc xử lý vật chứng: Trong quá trình điều tra cơ quan Công an có thu giữ của bị cáo 01 gói ma túy có khối lượng 0,2602 gam, sau khi lấy mẫu đi giám định (không hoàn trả mẫu vật), số còn lại trong một phong bì được niêm phong theo quy định pháp luật. Xét thấy vật chứng trên là vật Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu huỷ.

- Về nguồn gốc ma túy bị thu giữ: Bị cáo khai mua của một người đàn ông không quen biết, ở khu vực thôn Dinh Tần, xã B, Hện Y, tỉnh Nam Định. Vì vậy không có đủ cơ sở để điều tra xác minh làm rõ.

- Đối với 01 chiếc xe mô tô 01 xe mô tô mô tô nhãn hiệu Honlei BKS 18S9 – 0974 bị cáo Phạm Ngọc H dùng làm P tiện đi mua ma túy, quá trình điều tra xác định chiếc xe trên là tài sản của bị cáo H mua lại của anh Trần Văn Nghĩa, sinh năm 1965, trú tại: thị trấn Cồn, Hện Hải Hậu, tỉnh Nam Định để làm P tiện đi lại, nhưng không làm giấy tờ mua bán. Do vậy cần trả lại cho bị cáo H chiếc xe trên.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo mức án phí quy định tại Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Hành vi, quyết định tố tụng của điều tra viên, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là hợp pháp, đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Ngọc H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy

2. Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt: Bị cáo Phạm Ngọc H 13 (Mười ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ ngày 05/6/2018.

4. Việc xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ số ma túy còn lại thu giữ của bị cáo Phạm Ngọc H cùng toàn bộ vỏ bao gói ban đầu trong một phong bì niêm phong; Trả lại cho bị cáo Phạm Ngọc H 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honlei BKS 18S9 – 0974 (Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/7/2018 giữa Cơ quan CSĐT Công an thành phố Ninh Bình và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Ninh Bình).

5. Về án phí: Áp dụng Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án.

- Buộc bị cáo Phạm Ngọc H phải nộp 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm công khai bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án 30/7/2018.

Áp dụng Điều 26 Luật Thi hành án dân sự: “Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”./.

Cỡ chữ