vanban.org

Bản án 85/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La Tuyên án 23/08/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Cầm Thị P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Xử phạt bị cáo Cầm Thị P 15 (mười lăm) tháng tù giam. Thời gian thụ hình tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 21/4/2018). Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cầm Thị P - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Cầm Thị P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MAI SƠN
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 85/2018/HS-ST
Ngày 23 - 8 - 2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN- TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán- Chủ tọa phiên toà: Bà Hoàng Thị Thu Hà Các hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Đức Việt

Ông Cầm Văn Tổ Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Phương Thúy –Thư ký Tòa án Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Quỳnh Ngọc - Kiểm sát viên

Ngày 23 tháng 8 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 91/2018/HSST ngày 27 tháng 7 năm 2018 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 102/2018/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 8 năm 2018 đối với bị cáo:

Cầm Thị P. Tên gọi khác: không. Sinh năm 1974 tại huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La.

Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi ở: Bản A, xã B, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hóa: không; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Cầm Kim P1, sinh năm 1950 và bà: Lèo Thị P2, sinh năm 1952; Bị cáo có chồng là Hoàng Văn P3 (đã chết); Bị cáo có 03 con, con lớn nhất sinh năm 1992 và con nhỏ nhất sinh năm 2005.

Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Tại bản án số 17/2008/HSST ngày 19/3/2008 của Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn xử phạt bị cáo Cầm Thị P 24 tháng tù giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tại bản án số 76/2012/HSST ngày 12/9/2012 của Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn xử phạt bị cáo Cầm Thị P 30 tháng tù giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Bị cáo đã được đương nhiên xóa án tích.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/4/2018, giam tại Nhà tạm giữ, tạm giam Công an huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 7 giờ 40 phút ngày 21/4/2018 tổ công tác Công an xã B, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La đang làm nhiệm vụ tại khu vực bản A, xã B, huyện Mai Sơn phát hiện Cầm Thị P đang điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda, biển kiểm soát: 27F9-3524 đi theo hướng huyện Sông Mã => thành phố Sơn La có biểu hiện nghi vấn tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổ công tác áp sát và yêu cầu kiểm tra thì P ném từ tay trái ra 01 gói được gói bằng nilon màu xanh cách vị trí P dừng xe khoảng 1,5m. Tổ công tác tiến hành kiểm tra gói nilon màu xanh bên trong có 03 gói đều được gói bằng mảnh nilon màu xanh, trong đó: 02 gói chứa chất bột nén màu trắng nghi là hêrôin, 01 gói chứa 02 viên nén màu hồng, trên bề mặt có chữ “WY” nghi là ma túy tổng hợp. P khai nhận số ma túy trên là của P tàng trữ để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với P, niêm phong thu giữ số vật chứng nêu trên và thu giữ 01 xe máy nhãn hiệu Honda BKS 27F9-3524 vỏ màu xanh đen, số máy 003261, số khung 03261; 01 bật lửa gas vỏ màu đỏ tại túi áo khoác bên phải đang mặc của P.

Quá trình điều tra Cầm Thị P khai nhận:

Ngày 18/4/2018 khi đang dọn dẹp phòng ngủ của gia đình, Cầm Thị P phát hiện tại khu vực đầu giường có 01 gói được gói bằng nilon màu xanh bên trong có 03 gói đều được gói bằng mảnh nilon màu xanh có chứa ma túy của chồng P là Hoàng Văn P3 (đã chết ngày 15/3/2018) mua để sử dụng nhưng chưa sử dụng hết. Do là người nghiện ma túy nên P lấy gói ma túy cất giấu vào túi quần bên trái đang mặc mục đích để sử dụng dần. Từ ngày 19 đến ngày 20/4/2018 P lấy một phần số hêrôin trong 01 gói nilon màu xanh ra sử dụng bằng hình thức hít. Sau khi sử dụng P gói lại như ban đầu rồi cất giấu vào túi quần bên trái đang mặc. Đến 7 giờ 30 phút ngày 21/4/2018 P lấy 01 chiếc bật lửa màu đỏ trong nhà cất vào túi áo khoác bên phải đang mặc điều khiển xe máy biển liểm soát: 27F9-3524 đi đến nương của gia đình để sử dụng ma túy. Khi đi được khoảng 100m P dừng lại mua xăng, sau đó lấy gói ma túy ở túi quần cầm ở tay trái rồi tiếp tục điều khiển xe mô tô đi đến khu vực bản A, xã B, huyện Mai Sơn thì bị tổ công tác Công an xã B phát hiện bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Ngày 21/4/2018 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mai Sơn phối hợp với phòng k thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La tiến hành bóc mở niêm phong, cân tịnh, trích rút m u giám định đối với số vật chứng nghi là ma túy thu giữ của Cầm Thị P. Kết quả:

Tổng khối lượng chất bột nén màu trắng là 0,65 gam, trích rút toàn bộ làm m u giám định, ký hiệu M1, M2. Tổng khối lượng 02 viên nén màu hồng là 0,2gam, trích rút toàn bộ làm m u giám định, ký hiệu M3. M u giám định M1, M2, M3 gửi PC54 Công an tỉnh Sơn La giám định loại ma túy, khối lượng chất ma túy.

Ngày 30/4/2018, Phòng k thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La ra bản kết luận giám định số 552/KLMT kết luận:

“Mẫu gửi giám định ký hiệu M3 là ma túy; Loại chất Methamphetamine; Khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,2 gam. Mẫu gửi giám định ký hiệu M1, M2 là ma túy; Loại chất Hêrôin; Khối lượng của mẫu gửi giám định là M1= 0,3gam, M2= 0,35gam.”

Tại phiên toà bị cáo Cầm Thị P đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.

Bản cáo trạng số 69/CT-VKSMS ngày 27/7/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn đã truy tố bị cáo Cầm Thị P về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Sau khi kết thúc phần thẩm vấn, đại diện Viện kiểm sát trình bày luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo cáo trạng và đề nghị hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Cầm Thị P phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015:

Xử phạt bị cáo Cầm Thị P từ 14 đến 24 tháng tù giam.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015:

Tịch thu tiêu hủy 01 vỏ bao bì niêm phong tang vật ban đầu cùng các mảnh nilon gói ma túy bán đầu được niêm phong trong 01 phong bì theo quy định, 01 bật lửa ga màu đỏ.

Tịch thu sung công qu Nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, biển kiểm soát: 27F9-3524, màu xanh đen, số khung 03261, số máy 003261 của Cầm Thị P.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000VNĐ.

Bị cáo Cầm Thị P tự bào chữa: Nhất trí với nội dung luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mai Sơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân huyện Mai Sơn, Kiểm sát viên, thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tình tiết định tội, định khung hình phạt: Trước cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo Cầm Thị P khai nhận vào ngày 21/4/2018 bị cáo đã tàng trữ trái phép 0,65gam Heroin và 0,2gam Methamphetamine để sử dụng cho bản thân. Bị cáo đã bị tổ công tác Công an xã B, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 07 giờ 40 phút ngày 21/4/2018 của tổ công tác Công an xã Chiềng Mai, huyện Mai Sơn, biên bản mở niêm phong, cân tịnh, trích rút m u giám định và niêm phong lại vật chứng hồi 16 giờ 10 phút ngày 21/4/2018 của cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mai Sơn; phù hợp với kết luận giám định số 552 ngày 30/04/2018 của Phòng k thuật hình sự công an tỉnh Sơn La, phù hợp với biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung đối với bị cáo... và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Qua tranh luận tại phiên tòa không có gì mâu thu n.

Như vậy, với việc tàng trữ 0,65gam Heroin và 0,2gam Methamphetamine, mục đích để sử dụng đã có đủ căn cứ để kết luận bị cáo Cầm Thị P phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015. Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn truy tố bị cáo tại Bản cáo trạng số: 69/CT-VKSMS ngày 27/7/2018 là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội.

“Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

...

c) Hêrôin, côcain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

...”

Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm: Bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm về hình sự, dân sự. Bị cáo đã từng 02 lần bị xử phạt tù giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy nên bị cáo nhận thức rõ được việc tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng do thiếu rèn luyện, tu dưỡng, bị cáo đã tiếp tục phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm vào chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây mất trật tự trị an xã hội, tiếp tay cho các đối tượng hám lời có cơ hội lưu thông, buôn bán ma túy. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm, vì lẽ đó khi lượng hình cần phải áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện.

Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo xét thấy: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo đã 02 lần bị Tòa án xử phạt về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy: tại bản án số 17/2008/HSST ngày 19/3/2008 của Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn bị cáo bị xử phạt 24 tháng tù giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tại bản án số 76/2012/HSST ngày 12/9/2012 của Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn bị cáo bị xử phạt xử phạt 30 tháng tù giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Bị cáo đã được đương nhiên xóa án tích nhưng điều đó chứng tỏ bị cáo là người có nhân thân xấu, mặc dù đã nhiều lần bị xử phạt tù nhưng bị cáo không tỏ ra ăn năn, hối cải mà v n tiếp tục phạm cùng một tội với lỗi cố ý. Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với bị cáo.

Từ sự phân tích trên, căn cứ vào tính chất mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù giam với mức phạt nghiêm khắc, đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho gia đình, xã hội, từ đó có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Căn cứ biên bản xác minh của Cơ quan điều tra và tại phiên tòa xét thấy: Bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng, xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã thu giữ khi bắt quả tang bị cáo vật chứng gồm: 0,65gam Heroin và 0,2gam Methamphetamine đã trích rút toàn bộ làm m u giám định.

Đối với 01 vỏ bao bì niêm phong tang vật ban đầu cùng các mảnh nilon gói ma túy bán đầu được niêm phong trong 01 phong bì theo quy định, 01 bật lửa màu đỏ: xét thấy đây là những vật không có giá trị sử dụng hoặc có giá trị sử dụng thấp nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, biển kiểm soát: 27F9-3524, màu xanh đen, số khung 03261, số máy 003261: xét thấy đây là tài sản chung hợp pháp của bị cáo và chồng là Hoàng Văn P3, hiện anh P3 đã chết, không có ai tranh chấp tài sản trên với bị cáo nên đây là tài sản hợp pháp của bị cáo. Bị cáo đã dùng chiếc xe mô tô trên vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung công qu Nhà nước.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: buộc bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm là 200.000VNĐ.

Về các vấn đề khác:

Về nguồn gốc số ma túy P khai là của Hoàng Văn P3 (chồng của P) do sử dụng ma túy nên P3 đã mua về để tàng trữ. Ngày 15/3/2018 P3 đã chết vì vậy cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mai Sơn không có cơ sở để điều tra xác minh mở rộng vụ án, cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015:

Tuyên bố bị cáo Cầm Thị P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Xử phạt bị cáo Cầm Thị P 15 (mười lăm) tháng tù giam. Thời gian thụ hình tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 21/4/2018).

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

2. Về vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015:

Tịch thu tiêu hủy 01 vỏ bao bì niêm phong tang vật ban đầu cùng các mảnh nilon gói ma túy bán đầu được niêm phong trong 01 phong bì theo quy định, 01 bật lửa ga màu đỏ.

Tịch thu sung công qu Nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, biển kiểm soát: 27F9-3524, màu xanh đen, số khung 03261, số máy 003261 của Cầm Thị P.

3. Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000VNĐ (Hai trăm nghìn đồng chẵn).

Báo cho bị cáo biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 23/8/2018).

Cỡ chữ