- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Minh C phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình…"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Minh C, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Căn cứ chính? Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự; Điều 194 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA- VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 85/2018/HS-PT Ngày 18-6-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA- VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Trung Dũng
Thẩm phán:
Ông Nguyễn Minh Châu
Ông Cao Minh Vỹ
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Bình – Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Hùng Cường – Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 6 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 81/2018/TLPT-HS ngày 28-5-2018 đối với các bị cáo Nguyễn Minh C do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 40/2018/HSST ngày 24-4-2018 của Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
- Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Minh C, sinh ngày 22-01-2000 tại Bà Rịa-Vũng Tàu; nơi đăng ký HKTT và nơi ở: 184 E2 khu phố M, thị trấn N, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1971 và bà Nguyễn Thị Kim L, sinh năm 1971.
Tiền án: không.
Tiền sự: Quyết định số 11/QĐ-XPHC ngày 13-12-2017 của Công an thị trấn N xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Minh C số tiền 375.000 đồng vì có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Bị cáo tại ngoại (có mặt).
Ngoài ra, trong vụ án còn có bị cáo Ngô Bá Phương T không kháng cáo và không liên quan đến nội dung kháng cáo nên Tòa không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngô Bá Phương T và Nguyễn Minh C là bạn bè với nhau và đều là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy. T thường mua ma túy của một người tên Tý Á (chưa rõ lai lịch) để sử dụng. Vào tối ngày 18-12-2017, T mua của Tý Á 01 gói ma túy với giá 1.000.000 đồng, tuy nhiên T không biết đó không phải là ma túy. Sau khi mua ma túy, T chia ra thành 03 gói nhỏ để sử dụng và bán lại cho những người nghiện ma túy. Vào khoảng 08 giờ 30 phút ngày 19-12-2017, Nguyễn Thành T1 điện thoại di động cho T theo số 0923499577 hỏi mua 300.000 đồng ma túy và hẹn T đến quán cà phê “B” tại khu phố M, thị trấn N, huyện L để giao ma túy, T đồng ý. Lúc này, T điều khiển xe mô tô biển số 72H9-9171 đến nhà C rồi chở C về nhà T. Sau đó C mượn xe của T đi công chuyện và khi thấy C về, T đi vào nhà lấy 01 gói thuốc lá hiệu JET bên trong chứa 01 gói ma túy đá ra bỏ vào cái giỏ gắn phía trước xe mô tô rồi kêu C chở T đến quán cà phê “B”. Đến nơi, T đưa gói thuốc lá bên trong chứa ma túy cho C, nói C đem vào đưa cho T1 và nhận 300.000 đồng. Lúc này, C biết bên trong gói thuốc lá là ma túy nhưng vẫn đồng ý đi giao ma túy cho T. C cầm gói ma túy đi vào đưa cho T1 và nhận của T1 300.000 đồng thì bị phát hiện bắt quả tang tạm giữ 01 gói ma túy từ Nguyễn Thành T1. Sau đó, công an tiếp tục tạm giữ tại nhà của T 02 gói ma túy.
Qua điều tra xác định đây là lần đầu tiên T bán ma túy cho T1 và cũng là lần đầu tiên nhờ C đi giao ma túy dùm cho T.
Tại bản kết luận giám định số 288/GĐMT-PC54(Đ4) ngày 29-12-2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu kết luận:
1. Mẫu kết tinh không màu trong suốt chứa trong 01 (Một) gói nylon hàn kín (mẫu A1), được niêm phong trong một phong bì màu trắng (số thứ tự 01), có hình dấu của Công an thị trấn N – CAH L, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, cùng các chữ ký ghi họ tên: Thiếu tá Trần Thanh P, Bùi Văn M, Nguyễn Tiến S, gửi đến giám định không tìm thấy thành phần các chất ma túy thường gặp, trọng lượng 0,1938 gam.
2. Mẫu kết tinh không màu trong suốt chứa trong 01 (Một) gói nylon hàn kín (mẫu A2), được niêm phong trong một phong bì màu trắng (số thứ tự 02), có hình dấu của Công an thị trấn N – CAH L, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, cùng các chữ ký ghi họ tên: Thiếu tá Trần Thanh P, Huỳnh Văn P, Ngô Bá Phương T, Nguyễn Trọng T, gửi đến giám định không tìm thấy thành phần các chất ma túy thường gặp, trọng lượng 0,5931 gam.
3. Mẫu kết tinh không màu trong suốt chứa trong 01 (Một) gói nylon hàn kín (mẫu A3), được niêm phong trong một phong bì màu trắng (số thứ tự 03), có hình dấu của Công an thị trấn N – CAH L, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, cùng các chữ ký như trên mục 2, gửi đến giám định không tìm thấy thành phần các chất ma túy thường gặp, trọng lượng 0,9288 gam.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 40/2018/HSST ngày 24-4-2018 của Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu quyết định:
Tuyên bố: bị cáo Ngô Bá Phương T và bị cáo Nguyễn Minh C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự 1999, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58, Điều 91, Điều 101 Bộ luật hình sự 2015;
Xử phạt: Nguyễn Minh C 20 (hai mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt chấp hành án.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về hình phạt đối với bị cáo T, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 06-5-2018, bị cáo Nguyễn Minh C có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt với lý do trước khi phạm tội bị cáo luôn chấp hành tốt pháp luật, hoàn cảnh gia đình khó khăn, học vấn thấp không am hiểu pháp luật, thành khẩn khai báo, ăn năn hối hận.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, khai nhận hành vi phạm tội đúng như bản án sơ thẩm đã nêu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu phát biểu quan điểm về vụ án: Bản án sơ thẩm đã xét xử đối với bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, mức án đã tuyên phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào mới để làm căn cứ giảm nhẹ hình phạt. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Minh C gửi trong thời hạn luật định nên được chấp nhận xem xét theo trình tự thủ tục phúc thẩm.
Về tội danh và điều luật áp dụng: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm và phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 19-12-2017 tại quán cà phê “B” thuộc khu phố M, thị trấn N, huyện L, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, Ngô Bá Phương T và Nguyễn Minh C đã có hành vi bán trái phép 01 gói nylon bên trong có chứa chất kết tinh không màu trong suốt mà T và C ý thức rằng đó là chất ma túy cho Nguyễn Thành T1 với giá 300.000 đồng thì bị bắt quả tang. Theo kết quả giám định gói nylon thu giữ có trọng lượng là 0,1938 gam, không tìm thấy thành phần các chất ma túy thường gặp, tuy nhiên các bị cáo ý thức rằng chất mình đem bán là chất ma túy nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999 là hoàn toàn có căn cứ và đúng pháp luật.
Về kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo:
Xét tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến việc quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, là nguyên nhân dẫn đến nhiều loại tệ nạn xã hội và tội phạm khác liên quan đến ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an ninh tại địa phương. Bị cáo C có 01 tiền sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội. Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá vai trò tham gia đồng phạm của bị cáo, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo là người dưới 18 tuổi phạm tội và quyết định xử phạt bị cáo C 20 tháng tù là phù hợp, có tác dụng giáo dục riêng và ngăn ngừa phòng chống tội phạm chung.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo C không đưa ra được chứng cứ hoặc tình tiết nào khác làm căn cứ giảm nhẹ hình phạt. Vì vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, không chấp nhận kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo, giữ nguyên mức án mà cấp sơ thẩm đã tuyên.
Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Minh C, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Minh C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
Áp dụng khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự 1999, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58, Điều 91, Điều 101 Bộ luật hình sự 2015;
Xử phạt: Nguyễn Minh C 20 (hai mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt để thi hành án.
2. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm số 40/2018/HS-ST ngày 24-4-2018 của Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
3. Án phí hình sự phúc thẩm: bị cáo Nguyễn Minh C phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng).
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh BR-VT; - Sở Tư pháp tỉnh BR-VT; - PV 27 Công an tỉnh BR-VT; - TAND H. L, tỉnh BR-VT; - VKSND H. L, tỉnh BR-VT; - Công an H. L, tỉnh BR-VT; - Chi cục THADS H. L, tỉnh BR-VT; - Bị cáo; - Lưu: Tòa Hình sự, Hồ sơ vụ án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Nguyễn Minh Châu Cao Minh Vỹ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký và đóng dấu) Phạm Trung Dũng THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Trung Dũng |