vanban.org

Bản án 85/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Huỳnh Thị Vân A và anh Phạm Văn V.

Về con chung: Giao cháu Phạm Thanh P, sinh ngày 04/6/2001 và cháu Phạm Thị Yến N, sinh ngày 14/4/2003 cho chị Huỳnh Thị Vân A trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Phạm Văn V không phải cấp dưỡng nuôi con do chị Vân A không yêu cầu. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Anh - Vu"
  • Tòa quyết gì? Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Huỳnh Thị Vân A và anh Phạm Văn V.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẢNG BÀNG
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 85/2018/HNGĐ-ST.
Ngày 25-9- 2018.
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Văn Trưởng.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Cao Hoài Hiêm;

Ông Ngô Minh Lý.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huỳnh Như là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thướng - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 9 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 389/2018/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 7 năm 2018 về Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 113/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 9 năm 2018 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Huỳnh Thị Vân A, sinh năm 1983;

Bị đơn: Anh Phạm Văn V, sinh năm 1969;

Cùng trú tại: Ô 1, ấp H, xã B, huyện T, tỉnh Tây Ninh. Cùng có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn chị Huỳnh Thị Vân A trình bày:

Chị và anh V chung sống với nhau vào năm 1999, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B ngày 03/12/2003. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống bên gia đình chị đến năm 2013 cất nhà ở riêng. Vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2016 thì mâu thuẫn do chồng thường xuyên có lời nói xúc phạm chị. Vợ chồng chị ly thân từ tháng 11 năm 2017 cho đến nay. Từ khi ly thân đến nay hai bên không có thiện chí hàn gắn. Nay chị yêu cầu được ly hôn với anh V.

Về con chung: Vợ chồng có hai con chung tên Phạm Thanh P, sinh ngày 04/6/2001 và Phạm Thị Yến N, sinh ngày 14/4/2003 hiện đang sống với chị. Chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 25 tháng 7 năm 2018 và các lời khai tại Tòa án, bị đơn anh Phạm Thanh V trình bày:

Anh thừa nhận tất cả lời trình bày của chị Vân A là đúng.

Nay anh đồng ý ly hôn với chị Vân A. Khi ly hôn: Về con chung anh yêu cầu được nuôi dưỡng, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh:

Về tố tụng: Việc tuân thủ pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự thực hiện đầy đủ về quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 55, Điều 81, 82 của Luật Hôn nhân và gia đình 2014 xem xét quyết định:

- Về hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Huỳnh Thị Vân A và anh Phạm Văn V.

- Về con chung: Giao chị Vân A tiếp tục nuôi dưỡng cháu P và cháu N. Ghi nhận chị Vân A không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.

NHAÄN ÑÒNH CUÛA TOØA AÙN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Vân A và anh V tự nguyện chung sống với nhau từ năm 1999, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B ngày 03/12/2003. Anh chị thừa nhận trong thời gian chung sống có phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do vợ chồng bất đồng ý kiến, thường xuyên cãi vã. Nay chị Vân A yêu cầu ly hôn, anh V cũng đồng ý ly hôn. Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu ly hôn của anh chị tại phiên tòa là tự nguyện nên công nhận sự thuận tình ly hôn của anh chị là phù hợp với Điều 55 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[2] Về con chung: Cháu Phạm Thanh P, sinh ngày 04/6/2001 và Phạm Thị Yến N, sinh ngày 14/4/2003 hiện đang sống với chị Vân A. Khi ly hôn, chị Vân A và anh V cùng yêu cầu được nuôi dưỡng, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy từ khi ly thân đến nay, chị Vân A nuôi dưỡng con chung, cháu P và cháu N có nguyện vọng được sống với mẹ nên cần giao cháu P và cháu N cho chị Vân A tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp quy định tại Điều 81, 82 của Luật Hôn nhân và gia đình. Anh V không phải cấp dưỡng nuôi con do chị Vân A không yêu cầu. Anh V được quyền thăm nom con chung, không ai được quyền cản trở.

[3] Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[4] Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh tại phiên tòa là có căn cứ nên chấp nhận.

[5] Về án phí: Chị Vân A là nguyên đơn nên phải chịu án phí theo quy định tại khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 55, Điều 81, 82 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Tuyên xử:

1. Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Huỳnh Thị Vân A và anh Phạm Văn V.

2. Về con chung: Giao cháu Phạm Thanh P, sinh ngày 04/6/2001 và cháu Phạm Thị Yến N, sinh ngày 14/4/2003 cho chị Huỳnh Thị Vân A trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Anh Phạm Văn V không phải cấp dưỡng nuôi con do chị Vân A không yêu cầu.

Anh V được quyền thăm nom con chung, không ai được quyền cản trở.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí: Chị Huỳnh Thị Vân A phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn là 300.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0016192 ngày 10/7/2018 của Chi Cục thi hành án dân sự huyện Trảng Bàng; Chị Vân A đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

5. Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ