vanban.org

Bản án 85/2017/HSST — Hình sự

TAND huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La Tuyên án 15/09/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố b cáo Hà Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt b cáo Hà Văn T 24 (Hai mư i bốn) tháng tù giam. Thời hạn tù tính t ngày bắt tạm giam, tạm giữ (02/6/2017). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hà Văn T - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố b cáo Hà Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 41 Bộ luật Hình sự; Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 194 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MAI SƠN
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 85/2017/HSST
Ngày 15 tháng 9 năm 2017

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN TỈNH SƠN LA

Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: à Lò Th h .

ác hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đức Việt

à Tr nh Th Thái

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên tòa: à Đinh Th Phư ng Thúy, cán bộ Tòa án nhân dân huyện Mai S n, tỉnh S n La.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai S n, tỉnh S n La tham gia phiên tòa: Ông Hà Văn Phư ng- Kiểm sát viên.

Ngày 15/9/2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mai S n, tỉnh S n La xét xử s thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 89/2017/HSST ngày 30 tháng 8 năm 2017 đối với b cáo:

Hà Văn T. Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 10/8/1985 tại huyện Mai S n, tỉnh S n La.

N i đăng ký nhân khẩu thường trú và n i ở: Bản A, xã , huyện Mai S n, tỉnh S n La; Nghề nghiệp: Tr ng trọt; Dân tộc: Thái; Đảng phái, đoàn thể: không; Trình độ học vấn: 6/12.

on ông: Hà Văn M, sinh năm 1960 ( đã chết) và con bà: Hoàng Th N, sinh năm 1962; hiện đang cư trú tại bản Lắm, xã Mường Bon, huyện Mai S n, tỉnh S n La. cáo có vợ Hà Th C, sinh năm 1987; có 02 con lớn sinh năm 2005 nhỏ sinh 2009, cư trú tại Bản A, xã , huyện Mai S n, tỉnh S n La.

Tiền án, tiền sự: không.

B cáo đang b tạm giam tại trại tạm giam ông an tỉnh S n La t ngày 02/6/2017 cho đến nay. cáo có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án: ch Hà Th C, sinh năm 1987. Trú quán: Bản A, xã , huyện Mai S n, tỉnh S n La. ó mặt tại phiên tòa.

NHẬN THẤY:

B cáo Hà Văn T b Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai S n truy tố về hành vi phạm tội như sau:

H i 14 giờ 45 phút, ngày 02/6/2017 tổ công tác ông an tỉnh S n La làm nhiệm vụ tại khu vực bản Nà Viền , xã hiềng Kheo , huyện Mai S n phát hiện bắt quả tang Hà Văn T đang điều khiển xe máy đi trên đường có biểu hiện nghi vấn tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổ công tác yêu cầu T d ng xe và có ma túy tự giác giao nộp, T tự giác lấy trong túi quần bên phải đang mặc 01 gói được gói bằng mảnh ni lon màu xanh, bên trong có chứa 31 viên nén màu h ng giao nộp cho tổ công tác. Tổ công tác lập biên bản bắt người phạm tội quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Vật chứng thu giữ:

01 gói được gói bằng mảnh nilon màu xanh bên trong có chứa 31 viên nén màu h ng, trên bề mặt mỗi viên đều có ký tự XY.

01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO vỏ màu đen, kèm theo sim.

01 xe máy nhãn hiệu HONDA Super Dream, biển kiểm soát 26 1-617.71

Ngày 02/6/2017 Phòng Kỹ thuật hình sự công an tỉnh S n La tiến hành cân t nh xác đ nh trọng lượng 31 viên nén màu h ng trong gói vật chứng thu giữ của Hà Văn T có trọng lượng 2,85gam, trích rút 0,48gam làm mẫu giám đ nh ký hiệu T1, trọng lượng chất ma túy còn lại 2,37gam ký hiệu T2.

Tại bản kết luận giám đ nh số 564/KLMT, ngày 07/6/2017 của Phòng Kĩ thuật hình sự ông an tỉnh S n La kết luận: Mẫu vật gửi giám đ nh ký hiệu T1 là chất ma tuý, loại chất Methamphetamin; Tổng trọng lượng của mẫu gửi giám đ nh 0,48gam.Tổng trọng lượng chất ma túy thu giữ là 2,85gam, loại chất Methamphetamin..

Quá trình điều tra Hà Văn T khai nhận:

Khoảng 13 giờ 00 phút, ngày 02/6/2017 Hà Văn T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 26 1-617.71 của T đi t nhà ở Bản A, xã , huyện Mai S n và mang theo số tiền 1.500.000VNĐ đến bản Pắng Sẳng, xã hiềng Kheo, huyện Mai S n tìm mua methamphetamine về để sử dụng cho bản thân. Đến n i T gặp một người đàn ông dân tộc Mông tự giới thiệu tên là Nó đang đứng trên đường. T d ng xe hỏi mua 1.500.000VNĐ h ng phiến và đưa tiền. Nó nhận tiền r i đưa cho T 01 gói nhỏ bên ngoài được gói bằng mảnh nilon màu xanh, bên trong chứa 31 viên nén màu h ng. T cầm gói h ng phiến cất vào túi quần bên phải đang mặc và điều khiển xe đi về, còn Nó đi đâu làm gì T không biết. Khi T đi đến khu vực bản Nà Viền, xã hiềng Kheo, huyện Mai S n thì b Tổ công tác ông an tỉnh S n La phát hiện bắt quả tang.

Tại bản cáo trạng số: 69/KSĐT-AN ngày 30/8/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai S n, tỉnh S n La đã truy tố b cáo Hà Văn T về tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy đ nh tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai S n đã phát biểu ý kiến, giữ nguyên quan điểm truy tố b cáo Hà Văn T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy và đề ngh Hội đ ng xét xử (HĐXX) tuyên bố b cáo Hà Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự:

Xử phạt b cáo Hà Văn T t 24 đến 30 tháng tù giam

Về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với b cáo.

- Về vật chứng của vụ án đề ngh áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 41 Bộ luật Hình Sự (BLHS), khoản 1, 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng Hình Sự (BLTTHS):

Tuyên t ch thu tiêu huỷ: 2,37gam methamphetamine; 01 phong bì do ưu điện Việt Nam phát hành, được niêm phong dán kín, tại các mép có chữ ký giáp lai của các thành phần tham gia niêm phong mặt trước phong bì ghi “ Tang vật còn lại cùng vỏ phong bì niêm phong ban đầu vụ Hà Văn T” Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Tạm giữ để đảm bảo thi hành án 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu đen, kèm theo sim của b cáo T.

Trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ch Hà Th C 01 xe mô tô biển kiểm soát 26 1-617.71.

Về án phí: Áp dụng Điều 99 ộ luật tố tụng hình sự năm 2003; Điều 21, Điều 23 Ngh quyết số 326/2016/U TVQH14 quy đ nh về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án: uộc b cáo phải ch u án phí hình sự s thẩm 200.000VNĐ.

ăn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên c sở xem xét toàn diện, đầy đủ chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của b cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

XÉT THẤY:

Tại phiên tòa hôm nay b cáo Hà Văn T khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai tại c quan điều tra, số methamphetamine của b cáo b Tổ công tác công an tỉnh S n La thu giữ có ngu n gốc là b cáo mua được của một người đàn ông dân tộc Mông tên là Nó, b cáo không biết họ, đ a chỉ, mục đích mua số methamphetamine về để sử dụng cho bản thân nghiện chất ma túy. Lời khai của b cáo không có nội dung gì thay đổi, b cáo không khai gì thêm so với lời khai của mình tại quan cảnh sát điều tra, b cáo khẳng đ nh việc khai báo tại quan điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc b cáo đã thực hiện.

Xét lời khai của b cáo là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với biên bản phạm tội quả tang đối với Hà Văn T do Tổ công tác ông an tỉnh S n La lập h i 15 giờ 10 phút ngày 02/6/2017, biên bản thu giữ vật chứng, biên bản bóc mở niêm phong xác đ nh trọng lượng lấy mẫu giám đ nh, bản kết luận giám đ nh số 564/KLMT ngày 07/6/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự ông an tỉnh S n La kết luận mẫu vật gửi giám đ nh ký hiệu T1 là chất Methamphetamin; trọng lượng của mẫu gửi giám đ nh là 0,48gam. Lời khai của b cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của b cáo tại c quan điều tra và các tài liệu chứng cứ của c quan điều tra đã thu thập được trong h s vụ án.

T những chứng cứ nêu trên HĐXX xét thấy: Do bản thân nghiện chất ma tuý nên ngày 02/6/2017 b cáo Hà Văn T có hành vi tàng trữ 2,85gam Methamphetamin nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi trên của b cáo đã phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý, theo quy đ nh tại khoản 1 Điều 194 BLHS.

Xét thấy tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm thì hành vi phạm tội của b cáo T là rất nguy hiểm cho xã hội, hành vi của b cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại đ a phư ng.

Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với b cáo: B cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng b cáo có nhân thân xấu, b cáo là đối tượng nghiện chất ma tuý, nhưng do đua đòi lười lao động nên b cáo bất chấp pháp luật cố tình phạm tội để thỏa mãn nhu cầu cá nhân, gây mất trật tự tr an ở đ a phư ng. Lần phạm tội này của b cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, do đó xét thấy cần thiết phải cách ly b cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất đ nh mới đủ tác dụng cải tạo giáo dục đối với b cáo, đ ng thời mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ng a chung.

Tuy nhiên, khi lượng hình cũng cần xem xét tình tiết: Quá trình điều tra và tại phiên toà ngày hôm nay b cáo đều có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy đ nh tại điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS. Do Bộ luật hình sự năm 2015 quy đ nh tội Tàng trữ trái phép chất ma túy có hình phạt nhẹ h n so với quy đ nh của Bộ luật hình sự năm 1999. ăn cứ điểm h, i khoản 2 Điều 2 Ngh quyết số 41/2017/QH14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc hội về việc thi hành bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo luật số 12/2017/QH14 và về hiệu lực thi hành của Bộ luật tố tụng hình sự số 101/2015/QH13, Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự số 99/2015/QH13, Luật thi hành tạm giữ, tạm giam số 94/2015/QH13, Hội đ ng xét xử sẽ áp dụng khoản 3 Điều 7, điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 khi lượng hình đối với b cáo.

Về hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra và thẩm vấn công khai tại phiên toà thấy rằng, b cáo là đối tượng nghiện chất ma túy, thu nhập không ổn đ nh, không có tài sản giá tr nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với b cáo.

Về ngu n gốc số Methamphetamine quá trình điều tra và tại phiên tòa b cáo T khai mua của một người đàn ông dân tộc mông tên Nó không biết họ, đ a chỉ, việc mua bán không có ai biết, chứng kiến, quan cảnh sát điều tra ông an huyện Mai S n đã tiến hành xác minh tại U ND xã hiềng Kheo, huyện Mai S n, kết quả xác minh không có người đàn ông dân tộc Mông nào tên là Nó có hộ khẩu thường trú, hoặc đăng ký tạm trú tại bản Pắng Sẳng A,bản Pắng sẳng , xã hiềng Kheo, huyện Mai S n. Vì vậy c quan điều tra không có c sở để điều tra mở rộng vụ án.

Về vật chứng của vụ án g m:

G m 2,37 gam methamphetamine; 01vỏ phong bì niêm phong ban đầu. Xét thấy là vật Nhà nước cấm lưu hành và không có giá tr nên cần tuyên t ch thu tiêu hủy.

Đối với 1chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen, kèm theo sim của b cáo, xét thấy không liên quan đến vụ án cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA Super Dream BKS 26B1 – 617.71 HĐXX thấy rằng: Bản thân b cáo là người nghiện ma túy, không có tài sản riêng, sống phụ thuộc vào gia đình, sở dĩ giấy tờ xe mang tên b cáo vì b cáo có bằng lái xe nên mới được đăng ký xe, còn ngu n gốc số tiền mua xe là của vợ b cáo lao động, tích lũy mà có, chiếc xe là tài sản duy nhất có giá tr của gia đình b cáo, khi b cáo dùng xe đi mua ma túy để sử dụng vợ và gia đình không biết, gia đình có đ n xin lại chiếc xe đã có xác nhận của chính quyền đ a phư ng, xét thấy cần trả lại cho vợ b cáo để đảm bảo cuộc sống sinh hoạt bình thường.

B cáo phải ch u án phí HSST theo quy đ nh của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố b cáo Hà Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

1. Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự:

Xử phạt b cáo Hà Văn T 24 (Hai mư i bốn) tháng tù giam.

Thời hạn tù tính t ngày bắt tạm giam, tạm giữ (02/6/2017).

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với b cáo.

2. Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 41 BLHS; khoản 1, 2 điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tuyên t ch thu tiêu huỷ: 2,37gam methamphetamine; 01 phong bì do ưu điện Việt Nam phát hành, được niêm phong dán kín, tại các mép có chữ ký giáp lai của các thành phần tham gia niêm phong mặt trước phong bì ghi “ Tang vật còn lại cùng vỏ phong bì niêm phong ban đầu vụ Hà Văn T” Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Tạm giữ để đảm bảo thi hành án: 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu đen, kèm theo sim của b cáo T.

Trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ch Hà Th C0: 01 xe mô tô biển kiểm soát 26 1-617.71.

3. Về án phí: Áp dụng khoản 1, 2 Điều 99 LTTHS, điểm a khoản 1 Điều 23 Ngh quyết số 326/U TVQH14 ngày 30/12/2016 của U TVQH quy đ nh về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc b cáo Hà Văn T phải ch u án phí hình sự s thẩm là 200.000VNĐ.

áo cho b cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa biết được làm đ n kháng cáo trong hạn 15 ngày kể t ngày tuyên án s thẩm (ngày 15/9/2017)./.

Cỡ chữ