- Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán trái phép chất ma túy - Bị truy tố tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 100/2015/QH13 Phê duyệt chủ trương đầu tư các…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOẰNG HÓA CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Tỉnh Thanh Hóa | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 85/2017/HSST Ngày 07/9/2017. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOẰNG HÓA, TỈNH THANH HÓA
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Thắng.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Mai Văn Linh.
Bà Nguyễn Thị Nguyệt.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoa - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Hoằng Hóa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoằng Hóa tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Hùng Mạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 9 năm 2017 tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã Hoằng Tiến, huyện Hoằng Hóa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 67/2017/HSST ngày 13 tháng 7 năm 2017 đối với:
Bị cáo Nguyễn Văn Q; Sinh năm 1961 tại Thanh Hóa; Trú tại: thôn K, xã Hoằng T, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 09/10; Con ông Nguyễn Văn D và bà Nguyễn Thị S; Vợ: Lang Thị T; Con: Có 03 con, lớn sinh năm 1986, nhỏ sinh năm 1993; Tiền sự, tiền án: Không; Nhân thân: Năm 2007 bị Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xử phạt 15 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Tổ chức đánh bạc”, năm 2012 bị Tòa án nhân dân huyện EA Súp, tỉnh Đắc Lắc xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Bị cáo bị bắt và tạm giam kể từ ngày 07/4/2017 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
NHẬN THẤY
Bị cáo Nguyễn Văn Q bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoằng Hóa truy tố về hành vi phạm tội như sau: Vào khoảng 10h ngày 07/4/2017 Công an huyện Hoằng Hóa phối hợp với Công an xã Hoằng Tiến phát hiện, bắt quả tang Nguyễn Văn Q ở thôn K, xã T đang bán trái phép chất ma túy cho Lê Phạm N ở xã T. Vật chứng thu giữ trong túi quần sau bên phải của Lê Phạm N 01 gói giấy kích thước 2,5x2,5cm bên trong có chất bột màu trắng ngà, thu giữ trong túi quần bên trái của Q số tiền 200.000 đồng và 02 gói giấy kích thước 2,5x2,5cm bên trong có chứa chất bột màu trắng ngà. Cơ quan điều tra đã tiến hành niêm phong 01 gói giấy thu của Lê Phạm N (M1), 02 gói giấy thu trong người Nguyễn Văn Q (M2).
Tại bản kết luận giám định số 995/PC54-MT ngày 10/4/2017 và bản kết luận giám định số 1727/PC54-MT ngày 23/8/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận: Chất bột màu trắng ngà của phong bì niêm phong ký hiệu M1 có trọng lượng là 0,026 gam có thành phần heroin, hàm lượng heroin là 47,28%. Chất bột màu trắng ngà của phong bì niêm phong ký hiệu M2 có trọng lượng là 0,039 gam có thành phần heroin, hàm lượng heroin là 51,15%.
Quá trình điều tra Nguyễn Văn Q khai nhận: Sáng ngày 06/4/2017 Nguyễn Văn Q lên khu vực cầu Treo, thành phố T của một người đàn ông không rõ tên tuổi, địa chỉ với giá 500.000 đồng đem về chia nhỏ được 07 gói, Q sử dụng hết 04 gói. Khoảng 10h ngày 07/4/2017 có Lê Phạm N và Hà Hải B có góp mỗi người 100.000 đồng để đi mua ma túy về sử dụng. Cả hai đến nhà Nguyễn Văn Q, N vào hỏi mua 01 tép ma túy với giá 200.000 đồng, khi hai bên đang thực hiện việc mua bán trái phép chất ma túy thì bị Công an bắt quả tang cùng vật chứng.
Tại bản cáo trạng số 74/VKS-HH ngày 10 tháng 7 năm 2017 Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoằng Hóa đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn Q về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên thực hành quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật nêu trên và sau khi đánh giá tính chất vụ án, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1, 2 Điều 46, Điều 33 của Bộ luật Hình sự, đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn Q từ 36 tháng tù đến 42 tháng tù và xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.
XÉT THẤY
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa, bản tự khai, lời khai tại cơ quan điều tra, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 10h ngày 07/4/2017 Công an huyện Hoằng Hóa và Công an xã Hoằng Tiến phát hiện, bắt quả tang Nguyễn Văn Q ở thôn K, xã T đang bán trái phép chất ma túy cho Lê Phạm N ở xã T. Vật chứng thu giữ trong túi quần sau bên phải của Lê Phạm N 01 gói giấy bên trong có chất bột màu trắng ngà, thu giữ trong túi quần bên trái của Q số tiền 200.000 đồng, 02 gói giấy bên trong chứa chất bột màu trắng ngà và đã tiến hành niêm phong để giám định.
Theo bản kết luận giám định số 995/PC54-MT ngày 10/4/2017 và bản kết luận giám định số 1727/PC54-MT ngày 23/8/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận: Chất bột màu trắng ngà của phong bì niêm phong ký hiệu M1 có trọng lượng là 0,026 gam có thành phần heroin, hàm lượng heroin là 47,28%. Chất bột màu trắng ngà của phong bì niêm phong ký hiệu M2 có trọng lượng là 0,039 gam có thành phần heroin, hàm lượng heroin là 51,15%.
Hành vi mua bán trái phép ma túy của bị cáo Nguyễn Văn Q đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm của tội “Mua bán trái phép chất ma túy” tội phạm, hình phạt được quy định và trừng trị tại khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự.
Xét tính chất của vụ án thì thấy: Hành vi bán trái phép chất ma túy của bị cáo Nguyễn Văn Q đã trực tiếp xâm hại đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm đến trật tự trị an, an toàn xã hội, gây suy thoái về đạo đức, băng hoại giống nòi. Do đó phải xử lý nghiêm, có hình phạt phù hợp nhằm giáo dục bị cáo, giáo dục chung cho xã hội và cần thiết phải cách ly khỏi xã hội mới đủ điều kiện cải tạo giáo dục bị cáo.
Xét về tình tiết tặng nặng tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, bị cáo có bố là Liệt sỹ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, bà nội bị cáo là Bà mẹ Việt Nam Anh hùng nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại điểm x khoản 1 Điều 51 của Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 (khoản 2 của Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999), theo quy định có lợi cho người phạm tội. Do đó áp dụng các quy định của khoản 1, 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự để lượng giảm cho bị cáo một phần hình phạt thể hiện chính sách nhân đạo của pháp luật Nhà nước ta.
Về vật chứng: Số ma túy đã thu giữ của bị cáo là vật Nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.
Số tiền 200.000 đồng là số tiền bị cáo sử dụng vào việc phạm tội cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Về án phí: Bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1, 2 Điều 46, Điều 33 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Q 03 (Ba) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù kể từ ngày 07/4/2017.
Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 41 của Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 76 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy số heroin còn lại sau giám định (Theo phong bì niêm phong tại biên bản giao nhận vật chứng số 92/BBGN ngày 31/8/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoằng Hóa).
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 200.000 đồng (Theo biên lai thu tiền số AA/003434 ngày 17/4/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoằng Hóa).
Về án phí: Áp dụng Điều 99 của Bộ luật Tố tụng hình sự, khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Văn Q chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thi người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6,7, và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thanh Hóa. - VKSND huyện Hoằng Hóa. - Công an huyện Hoằng Hóa. - THA hình sự, THA dân sự. - Bị cáo. - UBND xã Hoằng Tiến. - Lưu hồ sơ vụ án. | tm. Héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Nguyễn Ngọc Thắng |