- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn Hòa - Thắng"
- Tòa quyết gì? 1/. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Đỗ Thị Kim H và ông Võ Đình T.
- Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 849/2023/HNGĐ-ST Ngày: 04/8/2023 V/v ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÕA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, TP.HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Tịnh Tâm
2. Ông Phạm Văn Chính
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hiếu Hạnh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn tham gia phiên tòa:
Bà Phùng Thị Ngọc Duyên – Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 8 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 302/2023/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 3 năm 2023 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 224/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 6 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 189/2023/QĐST-HNGĐ ngày 11 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Đỗ Thị Kim H, sinh năm 1978 (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: XX ấp TĐ, xã TTT, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị đơn: Ông Võ Đình T, sinh năm 1976 (vắng mặt)
Địa chỉ: XX ấp TĐ, xã TTT, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn xin ly hôn đề ngày 17/3/2023 và trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn bà Đỗ Thị Kim H trình bày:
Về hôn nhân: Bà Đỗ Thị Kim H đăng ký kết hôn với ông Võ Đình T tại UBND xã TT, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi vào ngày 17/7/1999 (Giấy chứng nhận kết hôn số 20, Quyển số 01). Thời gian đầu sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc, từ năm 2000 trở về sau vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình hai bên không hòa hợp, ông T không lo làm ăn, mê cờ bạc, rượu chè nên vợ chồng thường cãi vả, mỗi lần vợ chồng xảy ra mâu thuẫn là ông T đánh đập xua đuổi vợ con dẫn đến vợ con luôn sống trong cảnh lo sợ. Do cuộc sống chung không hạnh phúc nên bà H và ông T vẫn sống chung một nhà nhưng ly thân nhau từ năm 2022 cho đến nay, mạnh ai nấy sống, không còn thương yêu, lo lắng, chia sẻ, quan tâm đến nhau. Nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà H yêu cầu ly hôn với ông T.
Về nuôi con chung: vợ chồng có 02 con chung tên Võ Tấn Th, sinh ngày 12/11/2000 (đã trưởng thành) và Võ Đỗ Hà V, sinh ngày 31/10/2013. Hiện nay các con đang sống chung với bà H và ông T. Sau ly hôn bà H yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng trẻ V và không yêu cầu ông T cấp dưỡng tiền nuôi con.
Về tài sản chung: vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: bà H khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng bị đơn vắng mặt nên Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn quyết định đưa vụ án ra xét xử để Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÕA ÁN:
[1] Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng, Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn nhận định:
[2] Về thủ tục tố tụng:
Nguyên đơn bà Đỗ Thị Kim H khởi kiện yêu cầu ly hôn ông Võ Đình T nên đây là tranh chấp về ly hôn. Bị đơn ông Võ Đình T cư trú trên địa bàn huyện Hóc Môn, vì vậy Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Tp.HCM thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là đúng thủ tục tố tụng được quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Bà Đỗ Thị Kim H (là nguyên đơn trong vụ án) có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Ông Võ Đình T (là bị đơn trong vụ án) đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và điểm a, b khoản 1 Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà H và ông T.
[3] Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:
- Qua quá trình nghiên cứu hồ sơ vụ án, thông qua việc kiểm sát thụ lý, lập hồ sơ vụ án và kiểm sát trực tiếp tại phiên tòa cho thấy Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định do Bộ Luật Tố tụng dân sự quy định. Bà Đỗ Thị Kim H (là nguyên đơn trong vụ án) có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Ông Võ Đình T (là bị đơn trong vụ án) đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt, do đó, Tòa án tiến hành thủ tục xét xử vắng mặt bà H và ông T là đúng quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và điểm a, b khoản 1 Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Ý kiến về việc giải quyết vụ án: yêu cầu khởi kiện của phía nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
[4] Về hôn nhân: bà Đỗ Thị Kim H và ông Võ Đình T tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại UBND xã TT, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi vào ngày 17/7/1999 (Giấy chứng nhận kết hôn số 20, Quyển số 01), do đó hôn nhân của bà H và ông T là hôn nhân hợp pháp. Nay bà H yêu cầu ly hôn ông T nên Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 để giải quyết.
Bà H trình bày trong quá trình sống chung vợ chồng, do ông T không lo làm ăn, đam mê cờ bạc rượu chè, không thương yêu tôn trọng vợ, không có trách nhiệm chăm lo cuộc sống gia đình nên vợ chồng thường cãi vả, xung đột nhau dẫn đến đời sống chung vợ chồng không hạnh phúc. Hiện nay giữa bà H và ông T đã sống ly thân nhau, mạnh ai nấy sống, không còn chia sẻ, quan tâm đến nhau. Bà H xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng không thể cải thiện, bà H không thể tiếp tục sống chung vợ chồng với ông T.
Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết, qua các lần Tòa án hòa giải cho ông T thời gian để tạo sự hàn gắn, níu kéo hạnh phúc gia đình nhưng ông T đã không có mặc dù đã được tống đạt hợp lệ thông báo phiên hòa giải và tiếp cận công khai chứng cứ, thông báo kết quả tiếp cận công khai chứng cứ, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa, điều đó thể hiện ông T không có phương hướng, biện pháp và thiện chí hàn gắn hạnh phúc gia đình. Theo quy định tại khoản 4 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định: “Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc”. Như vậy, ông T đã từ bỏ quyền chứng minh của mình. Do đó, xét thấy giữa bà H và ông T không còn tình yêu thương, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau. Hiện nay bà H và ông T không ai thiện chí hàn gắn hạnh phúc gia đình nên yêu cầu ly hôn của bà H là có cơ sở chấp nhận.
[5] Về con chung: bà H và ông T có có 02 con chung tên Võ Tấn Th, sinh ngày 12/11/2000 (đã trưởng thành) và Võ Đỗ Hà V, sinh ngày 31/10/2013. Bà H yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng trẻ Vân và không yêu cầu ông T cấp dưỡng tiền nuôi con.
Xét thấy trẻ Vân là nữ hiện nay đang sống chung với bà H, phía ông T không có ý kiến gì đối với việc nuôi con của bà H. Tại Bản tự khai ngày 05/4/2023, trẻ Vân có nguyện vọng được sống chung với mẹ. Do đó, xuất phát từ quyền lợi về mọi mặt của con, việc bà H yêu cầu trực tiếp nuôi con là phù hợp với lợi ích của con và có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Vì vậy, căn cứ khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình 2014, cần giao trẻ Vân cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng.
Trước đây tại Đơn xin ly hôn bà H có yêu cầu ông T cấp dưỡng tiền nuôi con mỗi tháng 5.000.000 đồng. Tuy nhiên, trong quá trình Tòa án giải quyết, bà H xác định không yêu cầu ông T cấp dưỡng tiền nuôi con, xét thấy việc không yêu cầu nói trên là hoàn toàn tự nguyện nên tạm ngưng cấp dưỡng tiền nuôi con đối với ông T cho đến khi có đơn yêu cầu của bà H.
[6] Về tài sản chung: vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[7] Về nợ chung: bà H khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 91, Điều 147, Điều 227, Điều 238 và Điều 273 Bộ Luật Tố tụng dân sự 2015; Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình 2014; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1/. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Đỗ Thị Kim H và ông Võ Đình T.
2/. Về nuôi con chung: bà H và ông T có 02 con chung tên Võ Tấn Th, sinh ngày 12/11/2000 (đã trưởng thành) và Võ Đỗ Hà V, sinh ngày 31/10/2013.
2.1. Giao con chung là Võ Đỗ Hà V, sinh ngày 31/10/2013 cho bà Đỗ Thị Kim H trực tiếp nuôi dưỡng.
2.2. Tạm ngưng cấp dưỡng tiền nuôi con đối với ông Võ Đình T cho đến khi bà H có đơn yêu cầu.
Vì lợi ích con chung, bên không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến quyền này. Khi cần thiết một hoặc cả hai bên có thể yêu cầu Tòa án giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc quyết định mức cấp dưỡng nuôi con.
3/. Về tài sản chung: vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4/. Về nợ chung: bà H khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
5/. Án phí HNGĐ sơ thẩm: Bà Đỗ Thị Kim H phải chịu 300.000 (ba trăm ngàn) đồng án phí sơ thẩm ly hôn, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm ngàn) đồng bà H đã nộp theo biên lai số AA/2022/0016020 ngày 28/3/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn. Bà H đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
5/. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND H.Hóc Môn; - Chi cục THADS H.Hóc Môn; - UBND xã Tịnh Thiện, huyện Sơn Tịnh, Quảng Ngãi; - Lưu: HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Phạm Thị Thanh |