- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Tấn S và đồng phạm - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật hình sự và chỉ; Điều 51 Bộ luật hình sự tạo điều kiện; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 848/2025/HS-PT Ngày: 24-12-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Trần Cảnh
Các Thẩm phán:
1. Ông Phạm Công Toại;
2. Ông Lại Huỳnh Tú.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thuý – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Huyền - Kiểm sát viên.
Trong ngày 24 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 699/2025/TLPT-HS ngày 11/11/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 7035/2025/QĐXXPT-HS ngày 26/11/2025; Quyết định hoãn phiên toà số 22924/2025/HSPT-QĐ ngày 16/12/2025, do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 173/2025/HS-ST ngày 12/9/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh.
Hai bị cáo có đơn kháng cáo
1. Họ và tên: Trần Tấn S, sinh năm 2002 tại tỉnh N (nay là tỉnh L); Giới tính: Nam; Nơi đăng ký thường trú: Thôn 10, xã Q, huyện G, tỉnh N (nay là xã Q, tỉnh L); chỗ ở hiện nay: Căn hộ x, Toà nhà B, Khu dân cư và công viên T (Số 88 T, Khu phố 29, phường B, Thành phố H); nghề nghiệp: Sinh viên; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Vũ T, sinh năm 1973 và bà Trần Thị Ánh N, sinh năm 1979; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo đang tại ngoại, có mặt tại phiên tòa (bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và Quyết định tạm hoãn xuất cảnh từ ngày 11/11/2025 đến nay).
2. Họ và tên: Bùi Ngô Gia B, sinh năm 2002 tại Đ, giới tính: Nam; Nơi đăng ký thường trú: Thôn T1, xã M, thành phố G, tỉnh Đ (này là phường N, tỉnh L); chỗ ở hiện nay: Số 679 N, Khu phố 9, phường C, Thành phố H; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Đức T, sinh năm 1976 và bà Ngô Thị Q, sinh năm 1982; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo đang tại ngoại, có mặt tại phiên tòa (bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và Quyết định tạm hoãn xuất cảnh từ ngày 11/11/2025 đến nay).
Người bào chữa cho bị cáo Trần Tấn S: Ông Vũ Xuân H1 - Luật sư của Công ty Luật TNHH T, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Trần Tấn S và bị cáo Bùi Ngô Gia B là bạn bè đồng hương Tây Nguyên; hiện cả hai đang sinh sống, học tập và làm việc trên địa bàn Thành phố H. Khoảng đầu tháng 7/2024, B nhắn tin cho S nhờ tìm tỷ lệ cá cược bóng đá để tham gia đánh bạc. S liên hệ với đối tượng tên P (chưa rõ nhân thân) qua ứng dụng Telegram, được P cung cấp nhiều tỷ lệ cá cược, tỷ lệ thắng thua của các trận đấu bóng đá của Giải bóng đá vô địch Châu Âu (Euro) được tổ chức tại Cộng hoà Liên bang Đức năm 2024. S sau đó chuyển lại các tin nhắn có tỷ lệ cá cược cho B tham khảo để đặt cược. Sau khi kết thúc các trận đấu, B và S tính thắng thua với nhau rồi trả tiền mặt. Nếu B thắng thì S gặp P lấy tiền trả cho B. Nếu B thua thì S lấy tiền trả cho P.
Ngày 30/6/2024, trận đấu bóng đá giữa đội tuyển Anh và đội tuyển Sovakia do thời gian đã lâu, S không nhớ đã cung cấp tỷ lệ cá cược cho B như thế nào. Tuy nhiên B chọn đội tuyển Anh trong hiệp 1 với số tiền cá cược là 500.000 đồng. Kết quả B thua vì tỷ số giữa hai đội tuyển khi kết thúc hiệp 1 là 0:1.
Ngày 01/7/2024, trận đấu giữa đội tuyển Tây Ban Nha và đội tuyển Georgia, S cung cấp tỷ lệ cá cược: Hiệp 1, Tây Ban Nha chấp 1 bàn thắng, cả trận Tây Ban Nha chấp 1.75 bàn thắng (không nhớ tỷ lệ thắng thua). Hiệp 1 B chọn đội tuyển Tây Ban Nha cá cược số tiền 2.000.000 đồng, cả trận B chọn đội tuyển Georgia với số tiền cá cược là 2.000.000 đồng. Kết quả hiệp 1, Tây Ban Nha hoà Georgia với tỷ số 1:1 B thua. Cả trận Tây Ban Nha thắng Georgia với tỷ số 4:1 B thua. Tổng số tiền đánh bạc trận đấu giữa đội tuyển Tây Ban Nha và đội tuyển Georgia là 4.000.000 đồng.
Cùng ngày, trận đấu giữa đội tuyển Pháp và đội tuyển Bỉ. S cung cấp tỷ lệ cá cược: Hiệp 2, Pháp chấp Bỉ 0,25 bàn thắng, chọn Pháp thắng 90% còn Bỉ thắng 80% số tiền cược. Tài xỉu 1.25 bàn thắng, chọn tài hay xỉu đều thắng 90% số tiền đặt. B chọn xỉu đặt cược số tiền 2.800.000 đồng. Kết quả Pháp thắng Bỉ với tỷ số 1:0 nên B thắng 50% số tiền cược với số tiền là 1.260.000 đồng. Tổng số tiền B đánh bạc trận đấu bóng đá nói trên là 4.060.000 đồng.
Ngày 02/7/2024, trận đấu bóng đá giữa đội tuyển Bồ Đào Nha và đội tuyển Slovenia, S cung cấp tỷ lệ cá cược: Phạt góc hiệp 1 Bồ Đào Nha chấp 2.25 quả phạt góc, chọn Bồ Đào Nha thắng 50%, chọn Slovenia thắng 80% số tiền cược. Tài xỉu 6 quả phạt góc, chọn tài thắng 70%, chọn xỉu thắng 80% số tiền cược. B chọn Bồ Đào Nha đặt cược số tiền 10.000.000 đồng. Kết quả hiệp 1 Bồ Đào Nha được hưởng 2 quả phạt góc còn Slovenia không được hưởng quả phạt góc nào nên B thua 50% số tiền đặt cược là 5.000.000 đồng. Số tiền đánh bạc trận đấu bóng đá giữa đội tuyển Bồ Đào Nha và đội tuyển Slovenia là 10.000.000 đồng.
Ngày 05/7/2024, trận đấu bóng đã giữa đội tuyển Tây Ban Nha và đội tuyển Đức, S cung cấp tỷ lệ cá cược: Hiệp 1, Tây Ban Nha đá đồng banh với Đức, tỷ lệ thắng cược là 90% số tiền đặt. B chọn Tây Ban Nha, đặt cược số tiền 680.000 đồng. Kết quả hiệp 1 Tây Ban Nha và Đức hoà nhau nên B không thắng không thua. Hiệp 2, S cung cấp tỷ lệ cá cược tài xỉu 1.5 bàn thắng, chọn tài thắng 90% và chọn xỉu thắng 80% số tiền đặt. B chọn xỉu với số tiền đánh bạc 680.000 đồng. Kết quả Tây Ban Nha – Đức hoà nhau tỷ số 1:1 nên B thua. Vậy tổng số tiền B đánh bạc trận đấu Tây Ban Nha – Đức ngày 05/7/2024 là 1.360.000 đồng.
Ngày 06/7/2024, Hiệp 2 trận đấu bóng đá giữa đội tuyển Bồ Đào Nha và đội tuyển Pháp, S cung cấp tỷ lệ cá cược tài xỉu 1.25 bàn thắng, chọn tài thắng 90%, xỉu thắng 80% số tiền đặt. B chọn tài với số tiền đặt cược là 680.000 đồng. Kết quả trận đấu Bồ Đào Nha – Pháp hoà nhau tỷ số 0:0 nên B thua. Số tiền đánh bạc là 680.000 đồng.
Cùng ngày, trận đấu bóng đá giữa đội tuyển Anh và đội tuyển Thụy Sĩ, S cung cấp tỷ lệ cá cược đội tuyển Anh chấp đội tuyển Thụy Sĩ 0.25 bàn thắng, chọn Anh thắng 80%, chọn Thuỵ Sĩ thắng 90% số tiền cược. Tài xỉu 2 bàn thắng, tài thắng 90%, và xỉu thắng 80% so với số tiền cược. B chọn Anh cả trận cá cược số tiền 900.000 đồng, chọn tài cá cược số tiền 200.000 đồng. Kết quả: đội tuyển Anh hoà đội tuyển Thuỵ Sĩ với kết quả 1:1. Số tiền B đánh bạc là 1.100.000 đồng. Hiệp phụ, S cung cấp tỷ lệ cá cược tài xỉu 0.5 bàn thắng, chọn tài thắng 90% và chọn xỉu thắng 80% so với số tiền cược. B cược tài số tiền 680.000 đồng. Kết quả đội tuyển Anh hoà đội tuyển Thuỵ Sĩ với kết quả 0:0 nên B thua 680.000 đồng. Số tiền B đánh bạc là 680.000 đồng. Tổng số tiền B tham gia cá cược trận đấu bóng đá giữa đội tuyển Anh và đội tuyển Thuỵ Sĩ là 1.780.000 đồng.
Quá trình điều tra, cộng tỷ lệ cá cược, kết quả thắng thua các trận đấu bóng đá nói trên thì B và S đều tham gia xác nhận đúng và thừa nhận toàn bộ hành vi đánh bạc của mình.
Bản án hình sự sơ thẩm số 173/2025/HS-ST ngày 12/9/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh, tuyên xử như sau:
“1. Căn cứ vào Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tuyên bố các bị cáo: Bùi Ngô Gia B và Trần Tấn S phạm tội “Đánh bạc”.
Áp dụng Điều 38; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 58; khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; Xử phạt:
- Trần Tấn S: 09 (chín) tháng tù;
- Bùi Ngô Gia B: 09 (chín) tháng tù;
Về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.”
2. Căn cứ vào Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 (một) điện thoại hiệu Longan’s Xiaomi 12S Pro thu giữ của Trần Tấn S và 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone XS, màu trắng, dung lượng 64Gb thu giữ của Bùi Ngô Gia B...
- Buộc bị cáo Trần Tấn S nộp 5.000.000đ (năm triệu đồng) tiền thu lợi bất chính.”
Ngoài ra bản án còn tuyên về nghĩa vụ chịu án phí và quyền kháng cáo của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
Bị cáo Trần Tấn S kháng cáo ngày 22/9/2025 và ngày 24/9/2025, bị cáo Bùi Ngô Gia B có đơn kháng cáo, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho hưởng án treo.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Bùi Ngô Gia B và Trần Tấn S vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, xin được giảm nhẹ hình phạt, cho các bị cáo được hưởng án treo để tiếp tục được đi học, đi làm phụ giúp gia đình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm về việc kháng cáo như sau: Căn cứ lời khai của bị cáo và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh căn cứ khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự xét xử các bị cáo Trần Tấn S và Bùi Ngô Gia B về tội “Đánh bạc” là có căn cứ, đúng với quy định của pháp luật. Cấp sơ thẩm đã áp dụng đủ các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo, theo quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo có cung cấp thêm các tài liệu mới để bổ sung nội dung kháng cáo. Xét thấy, cấp sơ thẩm đã căn cứ tính chất, mức độ, hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo để xử phạt 09 (chín) tháng tù là phù hợp nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ mức hình phạt 09 (chín) tháng tù của Bản án sơ thẩm. Đối với ý kiến bào chữa của người bào chữa cho bị cáo S thì khách thể tội đánh bạc là xâm phạm trật tự xã hội nên việc bị cáo nộp lại số tiền thu lợi bất chính không được áp dụng điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự và chỉ được xem xét áp dụng theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Người bào chữa của bị cáo Trần Tấn S trình bày: Luật sư bào chữa cho bị cáo Trần Tấn S cho rằng mức hình phạt 09 tháng tù mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo là nghiêm khắc, chưa đánh giá đầy đủ vai trò, tính chất, mức độ hành vi phạm tội cũng như các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo nộp thêm tài liệu đang là sinh viên Trường Đại học F, đã tự nguyện nộp lại toàn bộ số tiền thu lợi bất chính của bản án sơ thẩm đã tuyên, nộp các thành tích của ông nội tham gia kháng chiến, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đã thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, gia đình có hoàn cảnh khó khăn, hiện đang là lao động phụ giúp cha mẹ nuôi sống gia đình, nuôi em còn nhỏ, có nơi cư trú rõ ràng, không thuộc trường hợp không được hưởng án treo, có khả năng tự cải tạo nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54, Điều 65 Bộ luật hình sự tạo điều kiện cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo có cơ hội tiếp tục đi học, làm lại cuộc đời, lao động kiếm tiền nuôi sống gia đình.
Bị cáo Trần Tấn S trình bày bổ sung: Bị cáo thống nhất với toàn bộ ý kiến bào chữa của Luật sư đã trình bày tại phiên tòa.
Bị cáo Bùi Ngô Gia B trình bày: Bị cáo Bùi Ngô Gia B thừa nhận hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã tuyên, nhận thức rõ sai phạm của mình và rất ăn năn, hối hận. Bị cáo thấy mức hình phạt của sơ thẩm nghiêm khắc, bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đã thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, tích cực hợp tác với cơ quan điều tra, ông nội bị cáo được tặng Huy chương Kháng chiến, gia đình bị cáo hiện hoàn cảnh khó khăn, bị cáo đang là lao động phụ giúp cha mẹ nuôi nuôi em ăn học, từ lúc hành vi bị phát hiện tới nay chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, chưa gây hiệu quả tiêu cực cho xã hội, có nơi cư trú rõ ràng, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét các tình tiết giảm nhẹ về nhân thân, hoàn cảnh gia đình và quá trình chấp hành pháp luật để giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được hưởng án treo.
Lời nói sau cùng của các bị cáo:
Bị cáo Trần Tấn S biết hành vi mình là vi phạm pháp luật, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, cho bị cáo được hưởng án treo để có điều kiện tiếp tục học tập, sửa chữa sai lầm và trở thành công dân có ích cho xã hội. Bị cáo xin cam kết nếu được Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận kháng cáo sẽ nghiêm chỉnh chấp hành mọi quy định của pháp luật và các nghĩa vụ theo quyết định của Tòa án.
Bị cáo Bùi Ngô Gia B đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét cho giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được hưởng án treo, bị cáo biết hành vi mình là sai, trong thời gian mới ra trường thất nghiệp bị cáo ham kiếm tiền bất hợp pháp, hiện bị cáo đã tu chí làm ăn là lao động chính phụ cha mẹ trả nợ và nuôi em ăn học.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án và các ý kiến tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:
Đơn kháng cáo của các bị cáo Trần Tấn S và Bùi Ngô Gia B trong thời hạn luật định là hợp lệ nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án cấp phúc thẩm.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Đức, Điều tra viên, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức (nay là Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh) trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Quá trình điều và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, các bị cáo Trần Tấn S và Bùi Ngô Gia B đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung bản án sơ thẩm và bản cáo trạng truy tố; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ: biên bản bắt người, biên bản thu giữ vật chứng cùng các tài liệu, biên bản về hoạt động tố tụng khác của Cơ quan điều tra đã thu thập có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy đã đủ cơ sở để kết luận:
Trong khoảng thời gian đầu tháng 7 năm 2024, do quen biết nhau từ trước, bị cáo Bùi Ngô Gia B đã nhiều lần nhắn tin cho bị cáo Trần Tấn S để hỏi tỷ lệ cá cược bóng đá nhằm tham gia đánh bạc. Bị cáo Trần Tấn S liên hệ với đối tượng tên P (chưa rõ lai lịch) qua ứng dụng Telegram để nhận các tỷ lệ cá cược các trận đấu bóng đá thuộc Giải vô địch bóng đá châu Âu (Euro 2024) được tổ chức tại Cộng hòa Liên bang Đức, sau đó chuyển lại cho bị cáo B làm căn cứ đặt cược.
Các bị cáo đã nhiều lần thực hiện hành vi cá cược bóng đá, được thua bằng tiền mặt vào các ngày 30/6/2024, 01/7/2024, 02/7/2024, 05/7/2024, 06/7/2024, tính toán thắng thua sau khi các trận đấu kết thúc; trường hợp bị cáo B thắng thì bị cáo Trần Tấn S nhận tiền từ đối tượng P để trả, còn trường hợp bị cáo B thua thì bị cáo Trần Tấn S có trách nhiệm giao tiền cho đối tượng P. Trong các lần tham gia đánh bạc trên, có lần vào ngày 02/7/2024, trong trận đấu bóng đá giữa đội tuyển Bồ Đào Nha và đội tuyển Slovenia, Bùi Ngô Gia B đánh bạc với đối tượng tên P qua Trần Tấn S bằng hình thức chọn Bồ Đào Nha chấp 2.25 quả phạt góc với đội tuyển Slovenia trong hiệp 1 với số tiền 10.000.000 đồng. Kết quả phạt góc hiệp 1 là 2:0 nên B thua 5.000.000 đồng, nên hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Đánh bạc”, tội danh và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Đối với các lần thực hiện hành vi cá cược bóng đá, được thua bằng tiền mặt vào các ngày 30/6/2024, 01/7/2024, 05/7/2024, 06/7/2024, do số tiền đánh bạc không đủ định lượng, hai bị cáo không có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh chuyển Công an Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt vi phạm hành chính là có cơ sở.
Do đó, bản án hình sự sơ thẩm số 173/2025/HSST ngày 12/9/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh đã xét xử các bị cáo Trần Tấn S và Bùi Ngô Gia B về tội danh, điều luật như trên là đúng người, đúng tội và phù hợp với quy định pháp luật.
Xét đơn kháng cáo của các bị cáo Trần Tấn S và Bùi Ngô Gia B, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên Tòa cấp sơ thẩm đã áp dụng điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự là có căn cứ pháp luật.
Xét thấy các bị cáo Trần Tấn S và Bùi Ngô Gia B tại phiên tòa có cung cấp tài liệu, chứng cứ thể hiện có hoàn cảnh gia đình khó khăn, các bị cáo đều là lao động phụ giúp trong gia đình, số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc không lớn, bị cáo Trần Tấn S đã tự nguyện nộp khắc phục lại toàn bộ số tiền bị cáo thu lợi bất chính (5.000.000 đồng) và hiện đang là sinh viên Trường Đại học F. Bị cáo B có ông nội được tặng Huy chương Kháng chiến hạng Nhất; bà nội được tặng Huy chương Kháng chiến hạng Nhất. Bị cáo S có gia đình bị cáo có công với Cách mạng. Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, không thuộc trường hợp không được hưởng án treo, không cần phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù, các bị cáo có khả năng tự cải tạo, không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội nên áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự chấp nhận nội dung kháng cáo của các bị cáo, cho các bị cáo hưởng án treo cũng đủ để giáo dục bị cáo thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật, tạo điều kiện để các bị cáo sửa chữa lỗi lầm, rèn luyện và trở thành công dân có ích cho xã hội.
Do đó kháng cáo của bị cáo có cơ sở để chấp nhận, cần sửa bản án sơ thẩm theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm e khoản 2 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự.
Lập luận nêu trên của Hội đồng xét xử là căn cứ để chấp nhận hoặc không chấp nhận quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cũng như của Luật sư bào chữa cho các bị cáo.
Về án phí: Do kháng cáo của các bị cáo Trần Tấn S và Bùi Ngô Gia B được chấp nhận nên các bị cáo này không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Trần Tấn S và Bùi Ngô Gia B; sửa bản án hình sự sơ thẩm số 173/2025/HSST ngày 12/9/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh, giữ nguyên mức hình phạt tù và cho các bị cáo hưởng án treo.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58 và Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, 2024, 2025
- Xử phạt bị cáo Trần Tấn S 09 (chín) tháng tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo, bị cáo phải chịu thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Trần Tấn S cho Ủy ban nhân dân phường L1, Thành phố H quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Xử phạt bị cáo Bùi Ngô Gia B 09 (chín) tháng tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo, bị cáo phải chịu thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Bùi Ngô Gia B cho Ủy ban nhân dân phường C, Thành phố H giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo khoản 1 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[2] Bị cáo Trần Tấn S đã nộp đủ số tiền 5.000.000đ (năm triệu đồng) tiền thu lợi bất chính theo quyết định của bản án sơ thẩm số 173/2025/HSST ngày 12/9/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh (biên lai số 0012347 ngày 24/12/2025 tại Thi hành án dân sự thành phố Hồ Chí Minh).
[3] Căn cứ vào Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Trần Tấn S và Bùi Ngô Gia B không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[4] Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
(Đã giải thích chế định án treo cho bị cáo Trần Tấn S và Bùi Ngô Gia B).
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao; - VKSND Thành phố Hồ Chí Minh; - VKSND KV2, TP. HCM; - TAND KV2, TP. HCM; - Cơ quan CSĐT CATPHCM; - Phòng PV06 - Công an TP. HCM; - Sở Tư pháp TP. Hồ Chí Minh; - UBND P.C, TP. HCM; - UBND P. L1, TP. Hồ Chí Minh; - Cơ quan Thi hành án dân sự; - Bị cáo; - Lưu: VP, HS (Thúy/20) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Mai Trần Cảnh |