- Tranh chấp gì? án hình sự — "TRẦN TRƯỜNG H - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Trần Trường H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/01/2025.
- Căn cứ chính? Luật Phí và lệ phí; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 84/2025/HS-ST Ngày: 21-08-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Nhung.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trương Thị Hồng Phương
2. Bà Võ Thị Mai
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hoa – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7 - Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Vũ Kim Duy - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 08 năm 2025 tại Tòa án nhân dân khu vực 7 - Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 258/2025/TLST-HS ngày 16 tháng 06 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 244/2025/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 07 năm 2025 đối với bị cáo:
TRẦN TRƯỜNG H, giới tính: Nam; sinh năm 1981 tại Thành phố C (tỉnh S cũ); Nơi thường trú: xã Trường Khánh, Thành phố Cần Thơ (xã Trường Khánh, huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng cũ); Nơi ở hiện tại: xã Củ Chi (xã Phước Vĩnh An, huyện Củ Chi cũ), Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Đầu bếp; trình độ văn hóa: 07/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông: Trần Văn N (không rõ năm sinh) và Lưu Thị T (không rõ năm sinh); Vợ: bà Huỳnh Thị Tuyết S, sinh năm 1986; con: Trần Huỳnh H Đ, sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt, tạm giam tại trại giam Chí Hòa, Công an Thành phố Hồ Chí Minh từ ngày 15/01/2025. (Bị cáo có mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Huỳnh Thị Tuyết S, địa chỉ: xã Củ Chi (xã Phước Vĩnh An, huyện Củ Chi cũ), Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Trường H làm đầu bếp tại quán L, tại địa chỉ: phường Bình Thạnh (Phường 14, quận Bình Thạnh cũ), Thành phố Hồ Chí Minh và có quen biết với N (không rõ lai lịch). Đến trưa ngày 13/01/2025, H sử dụng Zalo số 0944***476 nhắn tin cho N qua tài khoản Zalo của N tên “Kim N” (H không biết số điện thoại) rủ uống cà phê ở gần quán ăn và nói N mua ma túy đá giùm với giá tiền 200.000 đồng thì N đồng ý. Đến 20 giờ 10 phút, ngày 14/01/2025, H đang làm việc ở quán thì có số điện thoại 0934***691 điện cho H và nói “em chỗ chị N tới đưa đồ cho anh”. Lúc này, H đi bộ từ trong quán ra cửa đứng chờ khoảng 02 phút thì gặp 01 đôi nam nữ đi xe mô tô chở theo 02 đứa bé đến, người phụ nữ xuống xe đưa H gói ma túy và H đưa 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) cho người phụ nữ đó. Sau đó, H đi lại vào trong quán làm việc và cất giấu ma túy vào trong cốp xe mô tô hiệu Honda Vario không biển số để khi làm xong sẽ đi tìm nơi để sử dụng. Đến khoảng 20 giờ 52 phút cùng ngày, khi làm việc xong, H điều khiển xe mô tô về nhà. Khi đến trước địa chỉ: phường Thông Tây Hội (Phường 8, quận Gò Vấp cũ), Thành phố Hồ Chí Minh thì bị Tổ công tác 363 Công an Thành phố Hồ Chí Minh phối hợp Công an phường An Nhơn (Công an Phường 8, quận Gò Vấp cũ) kiểm tra và phát hiện trong cốp xe H có gói nylon chứa ma túy đá nên đã thu giữ niêm phong vật chứng, đưa H cùng tang vật về Công an phường An Nhơn (Công an Phường 8, quận Gò Vấp cũ) lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Tại cơ quan cảnh sát điều tra, Công an phường An Nhơn (Công an quận Gò Vấp cũ), Trần Trường H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.
Căn cứ kết luận giám định số 1989/KL-KTHS ngày 24/01/2025 của Phòng kỹ thuật Hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh xác định: Tinh thể được ký hiệu mẫu m cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,2413 gam, loại Methamphetamine.
Vật chứng vụ án gồm:
- Mẫu vật còn lại sau khi sử dụng phục vụ giám định: Tinh thể có khối lượng 0,0937 gam được niêm phong có chữ ký của Giám định viên và Cán bộ điều tra;
- 01 (một) USB có chứa hình ảnh đối tượng không rõ lai lịch giao ma túy cho Trần Trường H;
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J7 Prime có gắn sim số 0944***476 (Trần Trường H dùng làm phương tiện để mua ma túy);
- 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Vario không biển số, số khung MH1JMC115RK439787, số máy JMC1E1438796.
Tại bản cáo trạng số 267/CT-VKS-GV ngày 09/06/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố Trần Trường H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên toà bị cáo Trần Trường H khai nhận hành vi phạm tội như đã khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố đối với bị cáo.
Lời nói sau cùng: Bị cáo nhận thức hành vi của bị cáo là sai trái. Bị cáo chỉ xin được xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7, Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo Trần Trường H như cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Trần Trường H từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Gò Vấp (Nay là Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh), Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp (Nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7), Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi của bị cáo thể hiện: Vào lúc 20 giờ 52 phút ngày 14/01/2025, tại phường Thông Tây Hội (Phường 8, quận Gò Vấp cũ), Thành phố Hồ Chí Minh, Trần Trường H có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy có khối lượng 0,2413 gam, loại Methaphetamine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân thì bị bắt quả tang.
Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật nhưng vì thỏa mãn nhu cầu bản thân, bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp (Nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7) truy tố bị cáo theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung 2017 là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, tội phạm về ma túy gây tác hại lớn cho con người và xã hội, là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Do đó cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ sức giáo dục, răn đe phòng ngừa chung.
Khi quyết định hình phạt có cân nhắc đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Cụ thể:
Về tình tiết tăng nặng: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ: Tại Cơ quan điều tra và qua diễn biến phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Bị cáo phạm tội không nhằm thu lợi bất chính, công việc có thu nhập thấp nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại Khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về xử lý vật chứng:
- Tinh thể có khối lượng 0,0937 gam là chất cấm nên tịch thu tiêu hủy;
- 01 (một) USB có chứa hình ảnh đối tượng không rõ lai lịch giao ma túy cho H là ghi hình ghi nhận lại sự việc giao nhận ma túy là chứng cứ vụ án, Hội đồng xét xử quyết định tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án;
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J7 Prime có gắn sim số 0944***476 phương tiện để mua ma túy nên tịch thu, nộp vào ngân sách Nhà nước;
- 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Vario không biển số, số khung MH1JMC115RK439787, số máy JMC1E1438796 bị cáo dùng để cất giữ ma túy. Qua xác minh xe trên là của vợ bị cáo là bà Huỳnh Thị Tuyết S mua của Công ty TNHH xe máy nhập khẩu D nhưng chưa làm biển số. Bà S mua bằng tiền riêng của bà S, không phải tài sản chung của vợ chồng. Bà S cho bị cáo mượn để đi làm, không biết bị cáo sử dụng xe để cất giữ ma túy nên Hội đồng xét xử quyết định trả lại cho bà S.
Về vấn đề khác: Đối với người phụ nữ tên N mà bị cáo khai có mua giùm ma túy cho bị cáo và đôi nam nữ giao ma túy cho bị cáo hiện không rõ lai lịch nên giao cơ quan điều tra tiếp tục làm rõ khi có căn cứ sẽ xử lý sau.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ theo Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
Lời phát biểu luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh đối với bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và hình phạt đề nghị áp dụng đối với bị cáo phù hợp với quy định pháp luật được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Trần Trường H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/01/2025.
2. Miễn hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung 2017 cho bị cáo.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 46; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;
+ Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J7 Prime có gắn sim số 0944***476.
+ Tịch thu tiêu hủy: Tinh thể có khối lượng 0,0937 gam;
+ Lưu hồ sơ vụ án: 01 (một) USB có chứa hình ảnh đối tượng không rõ lai lịch giao ma túy cho H.
+ Trả lại cho bà Huỳnh Thị Tuyết S: 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Vario không biển số, số khung MH1JMC115RK439787, số máy JMC1E1438796.
Theo phiếu nhập kho vật chứng số 90/PNK, ngày 18/02/2025 của Công an quận Gò Vấp (Nay là Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh)
4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Luật Phí và Lệ phí; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án;
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Bằng chữ: Hai trăm nghìn đồng).
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;
Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày được tính từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết hợp lệ.
Căn cứ Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014)
| Nơi nhận: - TAND TP. HCM; - VKSND KV7; - THADSTPHCM-PTHADS KV7; - Công an TPHCM; - Bị cáo; - NCQLNVLQ; - Lưu: HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Nhung |