vanban.org

Bản án 842/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Hồ Thị T.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Hồ Thị T và ông Huỳnh Ngọc H thuận tình ly hôn. Giấy chứng nhận kết hôn số 07 của Ủy ban nhân dân Phường B, Quận C, Thành phố H cấp ngày 14 tháng 02 năm 2017 không còn hiệu lực pháp luật. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Hồ Thị T.
  • Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Luật Phí và lệ phí; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP
THÀNHPHỐ HỒCHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 842/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 16/6/2022
V/v tranh chấp ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Tám

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Mai Văn Phước

2. Bà Hoàng Thị Phương Lan

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hoa– Thư ký Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Oanh - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 6 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 185/2022/TLST-HNGĐ ngày 17 thaùng 02 naêm 2022 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 181/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 5 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Hồ Thị T, sinh năm 1983; cư trú tại: Xã Đ, thị xã R, tỉnh L (có mặt).

- Bị đơn: Ông Huỳnh Ngọc H, sinh năm 1992; cư trú tại: Phường A, quận V, Thành phố H (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 17 tháng 02 năm 2022 và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn bà Hồ Thị T trình bày:

Bà Hồ Thị T và ông Huỳnh Ngọc H đã tự nguyện quen biết, tìm hiểu và tiến tới hôn nhân, được Ủy ban nhân dân Phường 1, Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 07 ngày 14/02/2017. Trong quá trình chung sống, ông bà có 01 con chung là cháu Huỳnh Nhất L, sinh ngày 09/6/2017.

Trong quá trình chung sống, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm sống, nhiều lần ông Huỳnh Ngọc H đánh đập bà Hồ Thị T. Ông bà đã sống ly thân gần 02 năm nay. Hiện nay, bà đưa con chung là cháu Huỳnh Nhất Long về Bạc Liêu sinh sống từ ngày 20/9/2020, ông Huỳnh Ngọc H sống ở Thành phố H. Bà không còn yêu thương, quan tâm đến ông Huỳnh Ngọc H nữa, mỗi người có cuộc sống riêng tư ở mỗi nơi khác nhau. Hiện nay, mâu thuẫn giữa ông bà đã trầm trọng, không thể hàn gắn được, mục đích hôn nhân không bền vững nên bà đề nghị Tòa giải quyết cho bà được ly hôn với ông Huỳnh Ngọc H để ổn định cuộc sống về sau.

Trong thời gian chung sống, bà Hồ Thị T và ông Huỳnh Ngọc H ở chung nhà với mẹ chồng ở địa chỉ phường A, quận V, Thành phố H. Mâu thuẫn giữa vợ chồng chỉ có trong nội bộ gia đình biết, chính quyền địa phương và khu phố không biết.

Về con chung: Bà Hồ Thị T và ông Huỳnh Ngọc H có 01 con chung là cháu Huỳnh Nhất L, sinh ngày 09/6/2017. Bà Hồ Thị T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Huỳnh Nhất L

cho đến khi con chung đến tuổi trưởng thành, bà không yêu cầu ông Huỳnh Ngọc H cấp dưỡng nuôi con chung. Hiện nay, bà Hồ Thị T đang trực tiếp nuôi dưỡng con chung, 2 mẹ con đang sống ở Bạc Liêu, cháu Huỳnh Nhất L đang học lớp Chồi 2 tại trường mầm non Phong Thạnh Đ, thị xã R, tỉnh L. Bà Hồ Thị T là nhân viên của Công ty TNHH Xuất nhập khẩu thủy sản C với mức lương khoảng hơn 6.000.000 đồng/tháng, ngoài thời gian làm công ty, bà còn may đồ để có thêm thu nhập. Những lúc bà Hồ Thị T bận đi làm thì mẹ bà là bà ngoại của cháu có phụ chăm sóc cháu. Bà Hồ Thị T được cha ruột cho đất để xây nhà và 02 công ruộng để làm. Bà Hồ Thị T xác định bà có đủ điều kiện để nuôi dưỡng con chung. Hiện nay, cuộc sống của 02 mẹ con đang ổn định. Bà Hồ Thị T không ngăn cản việc ông Huỳnh Ngọc H về thăm con, bà luôn tạo điều kiện cho con được gặp cha nếu ông Huỳnh Ngọc H về thăm con, nhưng khoảng 01 năm nay ông không về thăm con và cũng không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà Hồ Thị T xác nhận không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.

Ông Huỳnh Ngọc H trình bày trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa như sau: Ông Huỳnh Ngọc H thống nhất với ý kiến như bà Hồ Thị T trình bày về thời gian kết hôn và con chung. Trong thời gian ông bà chung sống với nhau phát sinh nhiều mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm sống, bà Hồ Thị T có dấu hiệu ngoại tình nên ông có đánh bà. Vợ chồng đã sống ly thân hơn một năm nay, hiện nay bà Hồ Thị T dẫn con chung về Bạc Liêu sống, ông Huỳnh Ngọc H sống ở Thành phố H. Đến nay, ông Huỳnh Ngọc H không còn yêu thương bà Hồ Thị T nữa nên bà khởi kiện ly hôn thì ông đồng ý ly hôn với bà để cả hai ổn định cuộc sống về sau. Ông đề nghị Tòa án giải quyết cho ông bà được ly hôn.

Trong thời gian chung sống, bà Hồ Thị T và ông Huỳnh Ngọc H ở chung nhà với mẹ ruột ông ở địa chỉ phường A, quận V, Thành phố H. Mâu thuẫn giữa vợ chồng chỉ có trong nội bộ gia đình biết, chính quyền địa phương và khu phố không biết.

Về con chung: Bà Hồ Thị T và ông Huỳnh Ngọc H có 01 con chung là cháu Huỳnh Nhất L, sinh ngày 09/6/2017. Ông Huỳnh Ngọc H không đồng ý để bà Hồ Thị T trực tiếp nuôi dưỡng con chung, ông yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Huỳnh Nhất L, ông không yêu cầu bà Hồ Thị T cấp dưỡng nuôi con chung. Kể từ thời điểm ly thân, bà Hồ Thị T dẫn con chung về quê ở Bạc Liêu sinh sống, nhiều lần ông về quê thăm con chung nhưng bà Hồ Thị T và gia đình bà ngăn cản, không cho ông gặp con chung. Hiện nay, ông Huỳnh Ngọc H sống ở Thành phố H, ở chung nhà của mẹ ruột ông, ông làm nhân viên phát triển thị trường của Công ty CP Dịch vụ G với mức thu nhập trung bình hơn 10.000.000 đồng/tháng. Ông Huỳnh Ngọc H xác định ông có đủ điều kiện tài chính để nuôi dưỡng con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Ông Huỳnh Ngọc H xác nhận không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.

Tại phiên tòa: Bà Hồ Thị T và ông Huỳnh Ngọc H đều có mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu, ý kiến của mình.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Đây là tranh chấp về ly hôn, ông Huỳnh Ngọc H cư trú ở quận G nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.

Về tố tụng: Tòa án đã xác định đúng người tham gia tố tụng. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng, đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng, các đương sự thực hiện đúng các quy định của pháp luật.

Về nội dung: Yêu cầu khởi kiện của bà Hồ Thị T xin ly hôn với ông Huỳnh Ngọc H là có cơ sở nên Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, công nhận bà Hồ Thị T với ông Huỳnh Ngọc H thuận tình ly hôn, giao con chung cho bà Hồ Thị T trực tiếp nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi trưởng thành, tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con của ông Huỳnh Ngọc H cho đến khi một trong hai bên có yêu cầu, tài sản chung và nợ chung không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về tố tụng:

Quyền khởi kiện, quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Quan hệ tranh chấp giữa bà Hồ Thị T và ông Huỳnh Ngọc H là ly hôn, nuôi con chung. Căn cứ khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn là ông Huỳnh Ngọc H có địa chỉ cư trú tại phường A, quận V, Thành phố H nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh theo điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về người tham gia tố tụng: Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án triệu tập ông Huỳnh Ngọc H, bà Hồ Thị T tham gia phiên tòa xét xử vào lúc 14 giờ 00 ngày 16/6/2022, tại phiên tòa hôm nay các đương sự có mặt đầy đủ.

. Về yêu cầu của các đương sự:

Bà Hồ Thị T yêu cầu ly hôn với ông Huỳnh Ngọc H. Hôn nhân giữa bà Hồ Thị T và ông Huỳnh Ngọc H là hôn nhân tự nguyện và hợp pháp, được pháp luật công nhận theo Giấy chứng nhận kết hôn số 07 ngày 14 tháng 02 năm 2017 của Ủy ban nhân dân Phường B, Quận C, Thành phố H.

Bà Hồ Thị T trình bày trong quá trình vợ chồng chung sống vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm sống, nhiều lần ông Huỳnh Ngọc H đánh đập bà. Ông bà đã sống ly thân khoảng 02 năm nay. Hiện nay bà đưa con chung là cháu Huỳnh Nhất L về Bạc Liêu sinh sống, ông Huỳnh Ngọc H sống ở Thành phố H. Bà không còn yêu thương, quan tâm đến ông Huỳnh Ngọc H nữa. Hiện nay, mâu thuẫn giữa ông bà đã trầm trọng, không thể hàn gắn được nên bà đề nghị Tòa giải quyết cho bà được ly hôn với ông Huỳnh Ngọc H. Ông Huỳnh Ngọc H xác nhận trong quá trình ông bà chung sống với nhau phát sinh nhiều mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm sống, bà Hồ Thị T có dấu hiệu ngoại tình nên ông có đánh bà. Vợ chồng đã sống ly thân hơn một năm nay, hiện nay bà Hồ Thị T dẫn con chung về Bạc Liêu sống, ông Huỳnh Ngọc H sống ở Thành phố Hồ Chí Minh. Ông không còn yêu thương bà Hồ Thị T nữa nên bà khởi kiện ly hôn thì ông đồng ý ly hôn.

Tòa án đã xác minh tình trạng hôn nhân, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn vợ chồng giữa bà Hồ Thị T và ông Huỳnh Ngọc H tại Hội liên hiệp phụ nữ Phường A, quận G, Thành phố H, kết quả xác minh xác nhận mâu thuẫn vợ chồng phát sinh từ tháng 7/2021, nguyên nhân do hai người không hợp nhau, ông bà không còn sống chung, ly thân từ tháng 10/2021, ông Huỳnh Ngọc H đi làm có lương ổn định.

Xét thấy, hôn nhân chỉ đạt được mục đích khi xuất phát từ tình thương yêu giữa hai vợ chồng, cùng vun đắp, chăm sóc lẫn nhau để xây dựng một gia đình hạnh phúc. Thực tế, giữa bà Hồ Thị T và ông Huỳnh Ngọc H đã sống ly thân, mỗi người ở một nơi khác nhau. Bà Hồ Thị T tha thiết yêu cầu được ly hôn và ông Huỳnh Ngọc H cũng đồng ý ly hôn với bà, điều đó chứng tỏ mâu thuẫn giữa bà Hồ Thị T và ông Huỳnh Ngọc H đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn và không thể hàn gắn được, bà Hồ Thị T và ông Huỳnh Ngọc H thực sự không còn yêu thương, không quan tâm đến nhau nữa. Do đó, yêu cầu ly hôn của bà Hồ Thị T với ông Huỳnh Ngọc H là có cơ sở chấp nhận.

Từ những phân tích trên cho thấy cuộc sống vợ chồng giữa bà Hồ Thị T với ông Huỳnh Ngọc H hoàn toàn không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử nhận thấy yêu cầu xin ly hôn của bà Hồ Thị T với ông Huỳnh Ngọc H là chính đáng, phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Hồ Thị T với ông Huỳnh Ngọc H.

Về con chung: Quá trình chung sống, bà Hồ Thị T và ông Huỳnh Ngọc H có 01 con chung là cháu Huỳnh Nhất Long, sinh ngày 09/6/2017. Bà Hồ Thị T và ông Huỳnh Ngọc H đều yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Huỳnh Nhất Long và ông bà không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy, bà Hồ Thị T và ông Huỳnh Ngọc H đều có công việc ổn định, có thu nhập và khả năng tài chính để nuôi con. Ông Huỳnh Ngọc H đang ở Thành phố H. Bà Hồ Thị T đưa cháu Huỳnh Nhất L về Bạc Liêu sinh sống gần 02 năm nay và hiện nay bà đang là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Cháu Huỳnh Nhất L còn nhỏ, đang học lớp Chồi 2 tại trường mầm non Phong Thạnh Đ, thị xã R, tỉnh L, cuộc sống của cháu đang ổn định. Do đó, căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử quyết định giao con chung là cháu Huỳnh Nhất L cho bà Hồ Thị T được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi con chung đến tuổi trưởng thành là phù hợp, đảm bảo tốt nhất cho cuộc sống của trẻ về mặt thể chất cũng như tinh thần

Về tài sản chung và nợ chung: Bà Hồ Thị T và ông Huỳnh Ngọc H cùng xác nhận không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.

Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Hồ Thị T phải chịu án phí về ly hôn là 300.000 đồng theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Luật phí, lệ phí.

. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh về quan hệ hôn nhân của bà Hồ Thị T và ông Huỳnh Ngọc H, việc nuôi con chung, tài sản chung, nợ chung là phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử thống nhất.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các điều 147, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 51, 54, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Điều 26 Luật Thi hành án dân sự;

Căn cứ Luật phí và lệ phí năm 2015 và Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Hồ Thị T.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Hồ Thị T và ông Huỳnh Ngọc H thuận tình ly hôn.

Giấy chứng nhận kết hôn số 07 của Ủy ban nhân dân Phường B, Quận C, Thành phố H cấp ngày 14 tháng 02 năm 2017 không còn hiệu lực pháp luật.

2. Về con chung: Bà Hồ Thị T và ông Huỳnh Ngọc H có 01 con chung là cháu Huỳnh Nhất L, sinh ngày 09/6/2017. Giao con chung là cháu Huỳnh Nhất L cho bà Hồ Thị T là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi con chung đến tuổi trưởng thành. Ông Huỳnh Ngọc H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Ông Huỳnh Ngọc H được quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung mà không ai được cản trở.

Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Bà Hồ Thị T và ông Huỳnh Ngọc H cùng xác nhận không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.

4. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Hồ Thị T phải chịu án phí về ly hôn là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, được cấn trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng bà Hồ Thị T đã nộp theo biên lai thu số AA/2021/0047701 ngày 17 tháng 02 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh, bà Hồ Thị T đã nộp đủ tiền án phí ly hôn.

5. Về nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo các quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn bà Hồ Thị T, bị đơn ông Huỳnh Ngọc H có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ