vanban.org

Bản án 84 — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 22/11/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng kho n 1 Điều 308 ộ luật t tụng dân sự năm 2015, không chấp nhận kháng c o của Ngân hàng Thương mại Cổ phần X Việt Nam.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Qu ch Thị P: Tuyên b : Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài s n gắn liền với đất do bà Qu ch Thị P, ông Trần Xuân C và các con là chị Trần Tuyết L1, Trần Thị Mỹ L, Trần Thị T1 đã ký thế chấp với Ngân hàng Thương mại Cổ phần X Việt Nam (X) s 0104CN.01/HĐTC/52/… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "DSPT Quách Thị P - Ngân hàng TMCP X"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng kho n 1 Điều 308 ộ luật t tụng dân sự năm 2015, không chấp nhận kháng c o của Ngân hàng Thương mại Cổ phần X Việt Nam.
  • Căn cứ chính? Bộ luật Dân sự; Điều 28 Nghị định số 163/2006/NĐ-CP Về giao dịch bảo đảm
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

n n s : 84/2021/DS - PT
Ngày: 22/11/2021
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng,
hợp đồng thế chấp.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN

- Với thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: à Đỗ Anh Dân

Các Thẩm phán: à Nguyễn Minh Lý và bà Nguyễn Thị Thủy

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: à Lương Thị Thúy Linh - Thư ký Toà n nhân dân tỉnh Th i Nguyên

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thu Thuỷ - Kiểm s t viên.

Ngày 22 tháng 11 năm 2021 tại trụ sở Toà n nhân dân tỉnh Th i Nguyên mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ n dân sự thụ lý s 96/2020/TLPT-DS ngày 12/11/2020 về việc "Tranh chấp hợp đồng thế chấp, hợp đồng tín dụng". Do b n n dân sự sơ thẩm s 38/2020/DS-ST ngày 30/9/2020 của Tòa n nhân dân thành ph Th i Nguyên, tỉnh Th i Nguyên bị kh ng c o.

Theo quyết định đưa vụ n ra xét xử phúc thẩm s 02/2021/QĐ-PT ngày 05 tháng 01 năm 2021 giữa c c đương sự:

Nguyên đơn: Bà Qu ch Thị P, sinh năm 1963;

Trú tại: Xóm CP2, xã ML, huyện ĐH, tỉnh Th i Nguyên;

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: à Nguyễn Thị Thanh N, sinh năm 1978 - Luật sư Văn phòng luật sư TN - Đoàn Luật sư tỉnh Th i Nguyên (bà P vắng mặt, bà N có mặt).

Bị đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần X Việt Nam;

Địa chỉ trụ sở: Tầng 1 (tầng trệt) và tầng 2 Tòa nhà Sailing Tower, s

111A Pasteur, phường B, Quận 1, thành ph Hồ Chí Minh;

Người đại diện theo ph p luật: Ông Hàn Ngọc V - Tổng gi m đ c

Người đại diện theo ủy quyền: à Trần Thị Thu H - Gi m đ c Trung tâm Qu n lý nợ kh ch hàng c nhân, kh i Qu n trị rủi ro X;

Người được ủy quyền lại tham gia t tụng: Ông Hoàng Văn P, ông Nguyễn Quang T, ông Đinh Hoàng L, ông Hoàng Đình H1. (ông P, ông T, ông H1 có mặt, ông L vắng mặt)

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Trần Xuân C, sinh năm 1957 (vắng mặt)

Người đại diện theo ủy quyền của ông C: à Nguyễn Thị Thanh N, sinh năm 1978 - Luật sư Văn phòng luật sư TN - Đoàn Luật sư tỉnh Th i Nguyên (Có mặt).

2. Chị Trần Tuyết L1, sinh năm 1985 (vắng mặt)

3. Chị Trần Thị T1, sinh năm 1987 (vắng mặt)

4. Chị Trần Thị Mỹ L, sinh năm 1993 (vắng mặt)

5. Ông Qu ch Văn Đ, sinh năm 1967 (có mặt)

Đều trú tại: Xóm CP2, xã ML, huyện ĐH, tỉnh Th i Nguyên.

6. Anh Vi Nghĩa H, sinh năm 1977 (vắng mặt)

Hiện đang c i tạo tại phân trại s 3 Trại giam Phú Sơn 4, ộ Công an.

7. Ông Nguyễn Khắc T2, sinh năm 1961 (vắng mặt)

8. à Trần Thị N, sinh năm 1964 (vắng mặt)

Ông T ủy quyền cho bà N tham gia t tụng

Cùng địa chỉ: Tổ 15 (nay là tổ 7), phường CH, thành ph TN, tỉnh Th i Nguyên

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo n sơ thẩm, vụ n có nội dung như sau: Nguyên đơn bà Qu ch Thị P và đại diện theo ủy quyền bà Nguyễn Thị Thanh N trình bày:

Do có nhu cầu vay v n nên ngày 26/5/2011 ông C, bà P, chị Trần Tuyết L1, chị Trần Thị Mỹ L, chị Trần Thị T1 và Ngân hàng Thương mại cổ phần X Việt Nam - Chi nh nh Phan Đình Phùng đã ký hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài s n gắn liền với đất với diện tích 77,5m2, thửa s 10, b n đồ s 12 thuộc thị trấn CH, huyện ĐH (nay thuộc tổ 12, phường CH, thành ph TN), tỉnh Th i Nguyên, được U ND huyện Đồng Hỷ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng (GCNQSD) đất ngày 22/7/2008 mang tên bà Qu ch Thị P và ông Trần Xuân C.

Sau khi ký hợp đồng thế chấp thì giữa ông C, bà P có ký hợp đồng tín dụng để vay Ngân hàng X với s tiền là 350.000.000 đồng ( a trăm năm mươi triệu đồng), thời hạn vay là một năm. Do thời điểm đó giữa bà P và ông C có quen biết với ông Vi Nghĩa H là gi m đ c Ngân hàng X - Chi nh nh Phan Đình Phùng nên ông H đã làm thủ tục cho bà P, ông C vay v n đồng thời toàn bộ s tiền này ông C, bà P đã nhận đủ và đưa cho em trai là Qu ch Văn Đ sử dụng để làm trang trại. Hết thời hạn một năm bà P đi cùng ông Đ đến ngân hàng tr toàn bộ s tiền g c và lãi theo hợp đồng, ông Vi Nghĩa H - Gi m đ c có hẹn vợ chồng bà P sang tuần sau (kể từ ngày bà P tr nợ cho Ngân hàng g c và lãi) đến lấy bìa đỏ về vì ông H còn ph i làm thủ tục ở Ngân hàng, sau đó nhiều lần bà P đến tìm ông H đòi GCNQSD đất nhưng ông H tr n tr nh không tr .

Đến th ng 01 năm 2013 gia đình bà P nhận được Thông b o của Ngân hàng X yêu cầu bà P, ông C tr nợ cho Ngân hàng X với s tiền nợ g c là 360.000.000đ (Ba trăm sáu mươi triệu đồng), vợ chồng bà P không hiểu lý do nên đã liên tục đến Ngân hàng để đòi lại GCNQSD đất vì gia đình bà không vay s tiền 360.000.000 đồng như ngân hàng đã đòi, đồng thời nhiều lần yêu cầu Ngân hàng cung cấp cho vợ chồng bà Hợp đồng tín dụng về việc vay s tiền này. Sau nhiều lần yêu cầu cung cấp hợp đồng tín dụng với s tiền nợ 360.000.000 đồng thì vợ chồng bà được Ngân hàng cung cấp hợp đồng tín dụng s 0155CN/HĐTD/52/12 ngày 8/6/2012 và một khế ước nhận nợ s 0155CN/KUNN/52 ngày: /06/2012 (khế ước không ghi ngày). Qua xem xét lại chữ ký trong hợp đồng tín dụng ký năm 2012 ông bà thấy toàn bộ chữ ký của vợ chồng bà P và các con bà P, ông C ký trong hợp đồng tín dụng ngày 08/6/2012 và ký trong khế ước nhận nợ không ph i chữ ký của vợ chồng bà P và các con của bà P, ông C.

Do đó ông C, bà P đã làm đơn khởi kiện đồng thời đề nghị Tòa n thu thập chứng cứ và gi m định chữ ký, chữ viết trong hợp đồng tín dụng năm 2012, quá trình gi i quyết vụ n Tòa n đã trưng cầu gi m định đ i với chữ ký, chữ viết trong hợp đồng tín dụng năm 2012 x c định không ph i chữ ký, chữ viết của ông C, bà P.

Do đó, ông C, bà P đề nghị Tòa n xem xét hủy hợp đồng tín dụng s 0155CN/HĐTD/52/12 ngày 8/6/2012; Hủy khế ước nhận nợ s 0155/CN/KUNN/52 th ng 6/2012 và Chấm dứt Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài s n gắn liền với đất s : 0104CN.01/HĐTC/52/11 ngày 26/5/2011 của Ngân hàng thương mại cổ phần X Việt Nam do vợ chồng bà P đã thực hiện nghĩa vụ tr nợ xong cho Ngân hàng đồng thời yêu cầu Ngân hàng TMCP X (X) tr GCNQSD đất của gia đình bà.

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn Ngân hàng thương mại cổ phần X Việt Nam (X) trình bày:

Về hợp đồng tín dụng: Qu trình gi i quyết vụ n tại giai đoạn xét xử sơ thẩm và phúc thẩm lần 1 phía Ngân hàng x c định ông Trần Xuân C và Bà Quách Thị P đã ký hợp đồng tín dụng s 0155CN/HĐTD/52/12 ngày 8/6/2012 để vay v n tại Ngân hàng TMCP X Việt Nam - Phòng giao dịch Phan Đình Phùng, thành ph Th i Nguyên để vay s tiền 360.000.000 đồng. Sau khi nhận tiền, ông C và bà P đã ký khế ước nhận nợ s 0155CN/KUNN/52 ngày: /06/2012. Năm 2011 có ký hợp đồng tín dụng và cho bà P, ông C vay s tiền là 700.000.000 đồng, về kho n này đến nay x c định đã tr 350.000.000 đồng, s tiền còn nợ lại của năm 2011 là 350.000.000 đồng. Theo nghĩa vụ tài chính thì bà P x c định có ký kết hợp đồng s tiền 350.000.000 đồng đến nay gia đình bà P, ông C chưa hoàn thành nghĩa vụ tài chính đ i với kho n vay này, đến nay bà P cũng không đưa ra được chứng cứ gì về việc tất to n s tiền 350.000.000 đồng, thực tế khi ký kết hợp đồng hai bên thì mỗi bên được giữ một b n do đó bà P ph i có nghĩa vụ chứng minh. Đ i với tài liệu tại ngân hàng liên quan đến hồ sơ của bà Qu ch Thị P hiện nay bị thất lạc nên không cung cấp được.

Đ i với hợp đồng thế chấp tài s n: Để đ m b o kho n vay năm 2011, ông C, bà P, chị Trần Tuyết L1, chị Trần Thị Mỹ L, chị Trần Thị T1 đã ký hợp đồng thế chấp s 0104CN.01/HĐTC/52/11 s công chứng 1564, quyển 1, ngày 26/5/2011 tại Văn phòng công chứng phía Nam thành ph Th i Nguyên. Theo đó ông C, bà P, chị L1, chị L, chị T1 đã dùng tài s n thuộc quyền sở hữu và sử dụng của mình là toàn bộ quyền sử dụng đất và tài s n gắn liền với đất tại thửa 10, tờ b n đồ s 12 địa chỉ thị trấn CH, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Th i Nguyên, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất s AK 962881 do U ND huyện Đồng Hỷ, tỉnh Th i Nguyên cấp ngày 22/7/2008 đứng tên hộ bà Qu ch Thị P và ông Trần Xuân C để thế chấp, b o đ m cho kho n vay, việc thế chấp tài s n đã được đăng ký giao dịch b o đ m theo đúng quy định của ph p luật.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Ông Qu ch Văn Đ trình bày: Đầu năm 2011, do cần v n chăn nuôi nên ông có nhờ vợ chồng chị g i là bà Qu ch Thị P và ông Trần Xuân C thế chấp quyền sử dụng đất của vợ chồng ông C, bà P ở Ngân hàng X để vay v n. Do quen biết với anh Vi Nghĩa H là Gi m đ c chi nh nh Ngân hàng X phòng Giao dịch Phan Đình Phùng nên anh H đồng ý làm thủ tục cho chị P được vay v n, ngày 26/5/2011 Ngân hàng gi i ngân s tiền 350.000.000đ cho chị P anh C, thời hạn vay là 1 năm, chị P, anh C đã nhận tiền và giao lại cho ông Đ sử dụng s tiền vay 350.000.000 đồng. Đến hạn tr nợ ông Đ và bà P đến ngân hàng tr toàn bộ s nợ 350.000.000 đồng, nhưng bà P chưa nhận lại GCNQSD đất do anh H chưa làm thủ tục để tr lại, ông x c định s nợ 350.000.000 đồng ông và gia đình bà P, ông C đã tr xong cho Ngân hàng và không còn liên quan gì nữa.

Anh Vi Nghĩa H trình bày: Năm 2011 anh làm Giám đ c chi nh nh Ngân hàng X - Phòng giao dịch Phan Đình Phùng, anh có làm thủ tục cho bà Qu ch Thị P và ông Trần Xuân C vay s tiền 350.000.000đ thời hạn vay 01 năm tài s n thế chấp giấy chứng nhận QSD đất s AK962881 vào s cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất s 02702 do U ND huyện Đồng Hỷ cấp ngày 22/7/2008 mang tên Qu ch Thị P và Trần Xuân C tại thửa đất s 10; tờ b n đồ 12 tại thị trấn CH, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Th i Nguyên, diện tích 77,5m2 mục đích sử dụng ODT, thời hạn sử dụng lâu dài. Hết thời hạn sử dụng một năm bà P và ông C đã thanh to n đầy đủ s tiền g c và lãi cho Ngân hàng nhưng ông C, bà P chưa lấy Giấy chứng nhận QSD đất về. Năm 2012 anh Hà có nhu cầu vay v n Ngân hàng nên đã tự ý sử dụng hợp đồng thế chấp tài s n s 0104CN 01/HĐTD/52/11 ngày 26/5/2011 và giấy chứng nhận QSD đất của bà P và ông C vẫn để lại Ngân hàng để lập hợp đồng tín dụng s 0155CN/HĐTD/52/12 ngày 08/6/2012 vay s tiền 360.000.000 đồng ( a trăm s u mươi triệu đồng). Anh đã tự ký chữ ký, chữ viết họ và tên của bà P, ông C, chị Trần Tuyết L1, chị Trần Thị Mỹ L, chị Trần Thị T1 là con g i của bà P, ông C ở các trang của hợp đồng tín dụng vào bên vay hợp đồng tín dụng và tất c c c thủ tục kh c cần có chữ ký của những người trên, anh đã trực tiếp nhận s tiền 360.000.000 đồng từ Ngân hàng và sử dụng kho n tiền đó cho mục đích c nhân. Anh H x c định có tr ch nhiệm tr toàn bộ s tiền g c là 360.000.000đ (Ba trăm s u mươi triệu đồng) và tiền lãi ph t sinh theo hợp đồng tín dụng s 0155 CN/HĐTD/52/12 ngày 08/6/2012 cho Ngân hàng. Tại phiên tòa anh H x c định năm 2011 và năm 2012 thực hiện nhiều hồ sơ tín dụng như trường hợp của bà P, ông C nên đến nay anh không nhớ năm 2011 cho bà P ông C vay bao nhiêu tiền, tuy nhiên anh x c định năm 2011 bà P đã tr tiền, do cần tiền nên năm 2012 anh có tự làm thủ tục và ký tên trong hợp đồng tín dụng năm 2012 để lấy tiền sử dụng mục đích c nhân, anh tiếp tục x c định có tr ch nhiệm đ i với kho n vay năm 2012 khi ngân hàng có yêu cầu.

à Trần Thị N trình bày: à và ông Nguyễn Khắc T là vợ chồng, trước đây bà cùng làm một công ty với ông C, đồng thời do nhà bà ở sát nhà ông C nên biết bà P, ông C có nhu cầu b n nhà, ngày 12/7/2015 giữa vợ chồng bà và vợ chồng ông C đã thỏa thuận mua ngôi nhà của ông C, bà P tại thửa s 10, tờ b n đồ s 12 địa chỉ thị trấn CH, huyện Đồng Hỷ (nay là phường CH, thành ph Thái Nguyên) với gi 950.000.000 đồng, vợ chồng bà đã tr cho vợ chồng bà P, ông C s tiền 350.000.000 đồng, đến nay chưa tr vì chưa có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trong quá trình từ khi mua nhà cho đến nay, vợ chồng bà N là người trực tiếp qu n lý, c i tạo và sửa chữa ngôi nhà trên, s tiền c i tạo sửa chữa hết 370.000.000 đồng, khi mua nhà ông C, bà P cũng nói đã tr tiền ngân hàng lấy được Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì sẽ giao lại cho ông bà qu n lý. Việc x y ra tranh chấp giữa bà P, ông C và Ngân hàng gia đình bà không biết, đến nay bà đề nghị được giữ nguyên hiện trạng đang sử dụng ngôi nhà, đ i với việc mua b n nhà giữa gia đình bà và gia đình ông C, bà P không yêu cầu Tòa n g i quyết trong vụ n này.

Qu trình gi i quyết vụ n bà Qu ch Thị P đã có đơn yêu cầu Tòa n giám định chữ ký, chữ viết trong Hợp đồng tín dụng s 0155CN/HĐTD/52/12 ngày 8/6/2012 và Khế ước nhận nợ s 0155CN/KUNN/52 ngày 08/6/2012.

Tại b n Kết luận gi m định s 84/GĐTL-KTHS ngày 12/8/2015 Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Th i Nguyên đã có kết luận: Chữ ký và chữ viết trong hợp đồng tín dụng s 0155 CN/HĐTD/52/12 ngày 08/6/2012 và khế ước nhận nợ s 0155CN/KUNN/52 ngày: /06/2012 do Ngân hàng cung cấp không ph i chữ ký của bà P, ông C cùng các con.

Quá trình gi i quyết:

Tại n n dân sự sơ thẩm (lần 1) s 18/2018/DSST ngày 06/8/2018 Tòa n nhân dân thành ph Th i Nguyên đã xét xử và quyết định: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Qu ch Thị P về việc tranh chấp Hợp đồng tín dụng với Ngân hàng TMCP X Việt Nam. Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài s n gắn liền với đất đã ký thế chấp với Ngân hàng TMCP X (X) s 0104 lập ngày 26/05/2011 đến ngày 26/5/2012 hết hiệu lực. Tuyên b Hợp đồng tín dụng s 0155 ngày 8/6/2012 và Khế ước nhận nợ s 0155 ngày 8 tháng 6 năm 2012 là vô hiệu. uộc Ngân hàng TMCP X tr lại cho bà Qu ch Thị P 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất s AK 962881 cấp ngày 22/7/2008 mang tên hộ bà Qu ch Thị P và ông Trần Xuân C, s thửa 10, tờ b n đồ 12, diện tích 77,5m2 tại thị trấn CH, huyện Đồng Hỷ. Ngoài ra còn dành quyền khởi kiện cho ngân hàng X hoặc gửi đơn đề nghị khởi t đ i với Vi Nghĩa H đ i với s tiền 360.000.000đ ( a trăm s u mươi triệu đồng) đã nhận năm 2012, tuyên n phí, quyền kh ng c o theo quy định

Tại b n n dân sự phúc thẩm (lần 1) s 66/2018/DSPT ngày 13/11/2018 Tòa n nhân dân tỉnh Th i Nguyên x c định qu trình gi i quyết vụ n Tòa n cấp sơ thẩm không thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ từ cơ quan c nh s t điều tra công an tỉnh Th i Nguyên cũng như yêu cầu ngân hàng ph i cung cấp tất c c c hợp đồng vay s tiền 350.000.000 đồng và việc tr tiền của gia đình bà P như thế nào? Nếu chưa tr thì kho n vay 350.000.000 đồng được thể hiện ra sao? S dư hiện nay là bao nhiêu? Từ đó mới có căn cứ chấp nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà P, do đó Hội đồng xét xử phúc thẩm Tòa n nhân dân tỉnh Th i Nguyên đã hủy toàn bộ b n n sơ thẩm s 18/2018/DSST ngày 06/8/2018 của Tòa n nhân dân thành ph Thái Nguyên.

Tại b n n dân sự sơ thẩm (lần 2) s 38/2020/DSST ngày 30/9/2020 của Tòa n nhân dân thành ph Th i Nguyên, tỉnhTh i Nguyên, đã quyết định:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Qu ch Thị P về việc tranh chấp Hợp đồng tín dụng với Ngân hàng Thương mại Cổ phần X Việt Nam.

1. Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài s n gắn liền với đất do bà Qu ch Thị P, ông Trần Xuân C và các con là chị Trần Tuyết L1, Trần Thị Mỹ L, Trần Thị T1 đã ký thế chấp với Ngân hàng Thương mại Cổ phần X Việt Nam (X) s 0104 lập ngày 26/05/2011 hết hiệu lực .

2. Hợp đồng tín dụng s 0155CN/HĐTD/52/12 ngày 08/6/2012 và Khế ước nhận nợ s 0155CN/KUNN/52 ngày: /06/2012 là vô hiệu (khế ước không ghi ngày).

3. uộc Ngân hàng Thương mại Cổ phần X Việt Nam tr lại cho bà Quách Thị P 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất s AK 962881 cấp ngày 22/7/2008 mang tên hộ bà Qu ch Thị P và ông Trần Xuân C, s thửa 10, tờ b n đồ 12, diện tích 77,5m2 tại thị trấn CH, huyện Đồng Hỷ (nay là phường CH, thành ph Th i Nguyên), tỉnh Th i Nguyên.

4. Không xem xét hậu qu của hợp đồng s 0155CN/HĐTD/52/12 ngày 08/6/2012 vô hiệu liên quan đến tr ch nhiệm của bà Qu ch Thị P và ông Trần Xuân C.

5. Ngân hàng có quyền khởi kiện ông Vi Nghĩa H gi mạo chữ ký trong hợp đồng tín dụng 0155CN/HĐTD/52/12 ngày 08/6/2012 và một khế ước nhận nợ s s 0155CN/KUNN/52 ngày: /06/2012 (khế ước không ghi ngày) về việc rút s tiền 360.000.000 đồng để b o vệ quyền và lợi ích hợp ph p của Ngân hàng.

n n còn tuyên về n phí và quyền kh ng c o của đương sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 05/10/2020 Ngân hàng kh ng c o toàn bộ b n n, cụ thể đề nghị b c toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Qu ch Thị P với Ngân hàng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu c c tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ n đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết qu tranh tụng tại phiên toà, sau khi nghe đại diện Viện kiểm s t ph t biểu ý kiến, Hội đồng xét xử nhận định:

[1.] Về thủ tục t tụng: ị đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần X Việt Nam (sau đây gọi là Ngân hàng), kh ng c o trong hạn luật định, đã nộp dự phí kháng cáo là hợp lệ nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2.] Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và nội dung kh ng c o của Ngân hàng Thương mại Cổ phần X Việt Nam. Theo tài liệu trong hồ sơ vụ n và lời khai của c c đương sự tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy rằng: Ngày 26/5/2011, vợ chồng bà P, ông C cùng c c con là chị L1, chị L, chị T1, ký Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài s n gắn liền với đất s : 0104CN.01/HĐTC/52/11 với Ngân hàng Thương mại Cổ phần X Việt Nam. Tài s n thế chấp là nhà và đất tại thửa đất s 10, tờ b n đồ s 12 diện tích 77,5m2 thuộc thị trấn CH, huyện Đồng Hỷ (nay là phường CH, thành ph Th i Nguyên), tỉnh Th i Nguyên. Đất đã được Ủy ban nhân dân huyện Đồng Hỷ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 22/7/2008 mang tên hộ bà Quách Thị P và Trần Xuân C. (Hợp đồng thế chấp này do Ngân hàng cung cấp cho bà P năm 2015 và bà P giao nộp cho Tòa n). Theo lời khai của nguyên đơn bà P là vợ chồng bà ký hợp đồng tín dụng vay 350.000.000đ của Ngân hàng ngay sau khi ký hợp đồng thế chấp, thời hạn vay từ ngày 26/5/2011 đến ngày 26/5/2012. Vợ chồng bà đã tr đúng hạn tiền vay, tuy nhiên cho đến hiện tại Ngân hàng vẫn chưa tr lại GCNQSD đất trên cho bà.

Đ i với bị đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần X Việt Nam, không nhất trí yêu cầu khởi kiện của bà P vì lý do bà P còn nợ Ngân hàng s tiền vay 360.000.000đ, đồng thời Ngân hàng cung cấp Hợp đồng tín dụng s 0155CN/HĐTD/52/12 ngày 08/6/2012 và Khế ước nhận nợ s 0155CN/KUNN/52 ngày: /06/2012 (khế ước không ghi ngày). Bà P, ông C cùng các con x c định năm 2012 không có bất cứ giao dịch nào với Ngân hàng và không thừa nhận chữ ký, viết trong tài liệu này là của mình và bà P đề nghị gi m định chữ ký, chữ viết.

Tại b n Kết luận gi m định s 84/GĐTL-KTHS ngày 12/8/2015 Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Th i Nguyên đã có kết luận: Chữ ký và chữ viết trong hợp đồng tín dụng s 0155 CN/HĐTD/52/12 ngày 08/6/2012 và khế ước nhận nợ s 0155CN/KUNN/52 ngày: /06/2012 do Ngân hàng cung cấp không ph i chữ ký của bà P, ông C cùng các con

Qu trình gi i quyết vụ n, Tòa n đã nhiều lần ban hành Quyết định yêu cầu Ngân hàng TMCP X Việt Nam cung cấp hồ sơ ph p lý liên quan đến hồ sơ vay v n của bà P, ông C với Ngân hàng năm 2011. Cụ thể Quyết định s 49/2019/QĐ-CCTLCC ngày 09/8/2019 và Quyết định s 50/2019/QĐ-CCTLCC ngày 09/8/2019 của Tòa n nhân dân TP Th i Nguyên. Tuy nhiên Ngân hàng không cung cấp vì lý do không tìm thấy hồ sơ.

Tại giai đoạn phúc thẩm, ngày 29/01/2021 Tòa án nhân dân tỉnh Th i Nguyên ban hành Quyết định s 46/2021/QĐ-CCTLCC yêu cầu Ngân hàng TMCP X Việt Nam cung cấp hồ sơ ph p lý liên quan đến hồ sơ vay v n của bà P, ông C với Ngân hàng năm 2011.

Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 22/4/2021, Ngân hàng cung cấp hợp đồng tín dụng năm 2011 với bà P và “Giấy rút tiền”, ghi ngày 8/6/2012 có nội dung bà P ký nhận 360.000.000đ. Tuy nhiên bà P không thừa nhận chữ ký, chữ viết và đề nghị gi m định chữ ký, chữ viết trong “Giấy rút tiền”, do Ngân hàng cung cấp.

Tại b n Kết luận gi m định s 1162/KL - KTHS ngày 16/7/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Th i Nguyên đã có kết luận: Chữ ký “P” và chữ viết dưới chữ ký mang tên “Qu ch Thị P” trên mẫu so s nh (kí hiệu M19, M20. M4,1. M6.1) do cùng một người ký và viết ra.

Tuy nhiên bà P vẫn khẳng định bà không ký và không nhận được 360.000.000đ của Ngân hàng, nhưng không đề nghị gi m định lại mà đề nghị Tòa n không gi i quyết việc Ngân hàng yêu cầu bà tr 360.000.000đ trong vụ n này. ởi lẽ s tiền này không liên quan đến giao dịch vay tiền giữa bà và Ngân hàng năm 2011 và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện ban đầu.

Lời khai của Vi Nghĩa H ngày 01/8/2017 ( út lục 78 - 81), cũng như tại phiên tòa phúc thẩm, ngày 22/4/2021 x c định “...Bà P, ông C chưa lấy GCNQSDĐ về. Năm 2012 tôi có nhu cầu vay vốn ngân hàng nơi tôi đang làm nên tôi đã tự ý sử dụng hợp đồng thế chấp QSDĐ số 0104 ngày 26/5/2011 và Giấy chứng nhận QSDĐ của bà P, ông C vẫn để lại ở NH để lập hợp đồng tín dụng số 0155 ngày 08/6/2012 để vay số tiền 360.000.000 đồng. Tôi tự ký chữ ký của bà P, ông C, chị L1, chị L, chị T1 ở bên vay và các T1 của Hợp đồng tín dụng. Tôi trực tiếp nhận 360.000.000đ và sử dụng cho mục đích cá nhân, tôi xác định có trách nhiệm trả”.

Với những tài liệu, chứng cứ trên, có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà P đ i với Ngân hàng TMCP X Việt Nam, về việc bà P đã thực hiện xong nghĩa vụ tr nợ Ngân hàng theo hợp đồng tín dụng năm 2011. Ngân hàng không chứng minh được s tiền 360.000.000đ, theo yêu cầu của Ngân hàng đ i với bà P có liên quan đến Hợp đồng thế chấp s 0104 CN.01/HĐTC/52/11, ngày 26/5/2011 của bà P với Ngân hàng.

Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng trình bày Hợp đồng thế chấp s 0104 CN.01/HĐTC/52/11, ngày 26/5/2011, không những đ m b o cho hợp đồng tín dụng năm 2011, mà còn đ m b o cho những hợp đồng tín dụng tiếp theo, vì tại Điều 1 của Hợp đồng thế chấp s 0104 CN.01/HĐTC/52/11, ngày 26/5/2011 giữa gia đình bà P và Ngân hàng còn có nội dung “ Bên thế chấp….để đảm bảo nghĩa vụ của bên vay đối với X (bên nhận thế chấp), bao gồm tiền vay….theo hợp đồng tín dụng số 0104 CN.01/HĐTC/52/11, ngày 26/5/2011 và các hợp đồng tín dụng, hợp đồng bảo lãnh, LC….trong khoảng thời gian từ ngày 26/5/2011 đến 26/5/2021”. Do vậy là hợp đồng này cũng là để đ m b o cho Hợp đồng tín dụng s 0155CN/HĐTD/52/12 ngày 08/6/2012 giữa bà P với Ngân hàng.

Với chứng cứ là “Giấy rút tiền” ghi ngày 8/6/2012, do Ngân hàng cung cấp có nội dung bà P ký nhận 360.000.000đ, theo như đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng là Ngân hàng gi i ngân theo Hợp đồng tín dụng s 0155CN/HĐTD/52/12 ngày 08/6/2012 giữa bà P với Ngân hàng.

Tuy nhiên ý kiến này của Ngân hàng là không có căn cứ bởi lẽ, bà P cùng chồng và c c con là chị T1, chị L1, chị L không ký vào Hợp đồng tín dụng s 0155CN/HĐTD/52/12 ngày 08/6/2012 và Khế ước nhận nợ s 0155CN/KUNN/52 ngày: /06/2012.

Để đ m b o quyền lợi cho bà P, cũng như quyền lợi của Ngân hàng, không gi i quyết yêu cầu của Ngân hàng yêu cầu bà P tr ph i 360.000.000đ trong vụ n này vì không liên quan đến Hợp đồng thế chấp s 0104CN.01/HĐTC và Hợp đồng tín dụng 0104CN.01/HĐTD giữa bà Qu ch Thị P, ông Trần Xuân C và các con là chị Trần Tuyết L1, Trần Thị Mỹ L, Trần Thị T1 đã ký với Ngân hàng Thương mại Cổ phần X Việt Nam ngày 26/5/2011. Ngân hàng cũng không ph n t trong vụ n này, Ngân hàng có quyền khởi kiện đòi s tiền 360.000.000đ bằng một vụ kiện kh c.

Do vậy không có căn cứ chấp nhận kh ng c o của bị đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần X Việt Nam.

[3.] Về n phí: Đương sự ph i chịu n phí theo quy định của ph p luật.

[4.] Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm s t nhân dân tỉnh Th i Nguyên ph t biểu quan điểm: Thẩm ph n chủ tọa và Hội đồng xét xử tuân thủ đúng c c quy định của ộ luật t tụng dân sự. Về đường l i gi i quyết vụ n, đề nghị Hội đồng xét xử b c kh ng c o của bị đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần X Việt Nam. Giữ nguyên b n n dân sự sơ thẩm s 38/2020/DSST ngày 30/9/2020 của Tòa án nhân dân thành ph Th i Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

Vì c c lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng kho n 1 Điều 308 ộ luật t tụng dân sự năm 2015, không chấp nhận kháng c o của Ngân hàng Thương mại Cổ phần X Việt Nam. Giữ nguyên b n n dân sự sơ thẩm s 38/2020/DSST ngày 30/9/2020 của Tòa n nhân dân thành ph Th i Nguyên, tỉnh Thái Nguyên

Áp dụng các Điều 127, 128, 405, 410, 718 và Điều 719 ộ luật dân sự năm 2005, Điều 688 ộ luật dân sự 2015; Kho n 4 Điều 10, Điều 96 Luật c c tổ chức tín dụng 2010; Điều 28 Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ quy định về giao dịch b o đ m; Căn cứ Ph p lệnh s 10 ngày 27/02/2009 của Ủy ban Thường vụ Qu c hội; Điều 48 Nghị quyết s 326/2016/U TVQH 14 ngày 30 th ng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Qu c hội quy định về mức thu, miễn, gi m, thu, nộp, qu n lý và sử dụng n phí và lệ phí Tòa n.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Qu ch Thị P:

1. Tuyên b : Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài s n gắn liền với đất do bà Qu ch Thị P, ông Trần Xuân C và các con là chị Trần Tuyết L1, Trần Thị Mỹ L, Trần Thị T1 đã ký thế chấp với Ngân hàng Thương mại Cổ phần X Việt Nam (X) s 0104CN.01/HĐTC/52/11 lập ngày 26/05/2011 là hết hiệu lực.

2. Hủy đồng tín dụng s 0155CN/HĐTD/52/12 ngày 8/6/2012 và một khế ước nhận nợ s 0155CN/KUNN/52 ngày: /06/2012 (khế ước không ghi ngày), do chữ ký, chữ viết trong hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ không ph i chữ ký của bà P, ông C và c c con là chị T1, chị L1, chị L.

3. uộc Ngân hàng Thương mại Cổ phần X Việt Nam tr lại cho bà Quách Thị P 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất s AK 962881 cấp ngày 22/7/2008 mang tên hộ bà Qu ch Thị P và ông Trần Xuân C, s thửa 10, tờ b n đồ 12, diện tích 77,5m2 tại thị trấn CH, huyện Đồng Hỷ (nay là phường CH, thành ph Th i Nguyên), tỉnh Th i Nguyên.

4. Ngân hàng Thương mại Cổ phần X Việt Nam có quyền khởi kiện đòi s tiền 360.000.000 đồng để b o vệ quyền và lợi ích hợp ph p của Ngân hàng bằng một vụ kiện kh c.

Hoàn tr Ngân hàng chứng cứ là “Giấy rút tiền” ghi ngày 8/6/2012.

5. Về n phí: Ngân hàng Thương mại Cổ phần X Việt Nam ph i chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nộp ngân s ch nhà nước. Tr lại cho bà Qu ch Thị P s tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu s 0003278 ngày 06/4/2015 của Chi cục Thi hành n dân sự thành ph Th i Nguyên.

Án phí phúc thẩm: Ngân hàng Thương mại Cổ phần X Việt Nam ph i chịu 300.000đ, được trừ vào s tiền tạm ứng n phí phúc thẩm đã nộp, theo biên lai thu s 0003641 ngày 21/10/2020 của Chi cục Thi hành n dân sự thành ph Th i Nguyên.

B n án phúc thẩm có hiệu lực thi hành./.

Cỡ chữ