- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thế Q - sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2025)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thế Q phạm tội: “ Sử dụng trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 84/2026/HS-ST Ngày: 21-5-2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – PHÚ THỌ
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Duẩn
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Ngọc Triển;
2. Bà Vũ Thị Thanh Hương.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Anh- Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 10 – Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân Khu vực 10 – Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Phạm Tiến Tuân - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 5 năm 2026, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân Khu vực 10, tỉnh Phú Thọ. Tòa án nhân dân Khu vực 10 – Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 57/2026/TLST-HS ngày 31 tháng 3 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 81/2026/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 4 năm 2026 đối với bị cáo:
Nguyễn Thế Q, sinh ngày 30 tháng 11 năm 1981; Nơi cư trú: thôn Đ, xã V, tỉnh Phú Thọ; Căn cước công dân số: 0260.081.002.529 do Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 18/12/2021; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch Việt Nam; con ông Nguyễn Mạnh H (đã chết) và con bà Bùi Thị C (đã chết); Vợ, con: Chưa có.
- Tiền án, tiền sự: không
- Nhân thân:
+ Tại Bản án số 346/2007/HSST ngày 10/8/2007 của Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội (cũ) xử phạt Nguyễn Thế Q 26 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự. Ngày 27/02/2009, Quyền chấp hành xong toàn bộ bản án.
+ Tại Bản án số 130/2019/HSST ngày 08/11/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc (cũ) xử phạt Q 02 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Ngày 17/6/2021, Quyền chấp hành xong toàn bộ bản án.
+ Ngày 11/02/2025, Nguyễn Thế Q có đơn đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện và ký hợp đồng dịch vụ cai nghiện ma túy tự nguyện với Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Vĩnh Phúc thời hạn 06 tháng từ ngày 11/2/2025 đến ngày 11/8/2025. Ngày 11/8/2025, Quyền hoàn thành cai nghiện ma túy tự nguyện tại cơ sở cai nghiện ma túy. Ngày 20/8/2025, Ủy ban nhân dân xã V ra Quyết định số 663 về việc quản lý sau cai nghiện tại nơi cư trú đối với Nguyễn Thế Q trong thời hạn 01 năm kể từ 20/8/2025 đến 20/8/2026.
Bị can bị bắt tạm giữ ngày 20/01/2026 đến ngày 23/01/2026 chuyển tạm giam. Tại phiên tòa bị cáo (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 20/01/2026, Công an xã V, tỉnh Phú Thọ triệu tập làm việc với Nguyễn Thế Q, sinh năm 1981, trú tại: thôn Đ, xã V, tỉnh Phú Thọ là đối tượng đang bị quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú theo Quyết định số 663/QĐ-UBND ngày 20 tháng 8 năm 2025 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã V để kiểm tra về việc chấp hành các quy định của pháp luật liên quan đến cai nghiện ma túy. Quá trình làm việc, Công an xã V phối hợp với Trạm y tế Y, xã V tiến hành kiểm tra test nhanh chất ma túy trong mẫu nước tiểu của Q, kết quả: xác định nước tiểu của Nguyễn Thế Q dương tính với chất ma túy, loại Heroine. Quyền khai nhận buổi tối ngày 18/01/2026, Q có hành vi sử dụng trái phép ma túy. Quá trình làm việc, Cơ quan Công an xã V đã tiến hành thu giữ mẫu nước tiểu của Quyền niêm phong trong chai nhựa để phục vụ việc trưng cầu giám định. Đồng thời bàn giao hồ sơ vụ việc trên cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh P thụ lý giải quyết theo quy định.
* Kết quả trưng cầu giám định:
Ngày 20/01/2026, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh P đã ra quyết định trưng cầu giám định số 1299 trưng cầu Phòng K Công an tỉnh P giám định chất ma túy trong mẫu nước tiểu thu giữ của Nguyễn Thế Q, có chất ma túy không? Nếu có là loại ma túy nào?
Ngày 22/01/2026, Phòng K - Công an tỉnh P ra Bản kết luận giám định số 462/KL-KTHS, kết luận:
“- Trong mẫu chất lỏng màu vàng được xác định là mẫu nước tiểu thu giữ của Nguyễn Thế Q SN 1981, HKTT tại thôn Đ, xã V, tỉnh Phú Thọ thu ngày 20/01/2026 gửi giám định tìm thấy chất ma túy loại Morphine.
- Morphine: là sản phẩn chuyển hóa của Heroine trong cơ thể.
- H1 lại đối tượng giám định: không”.
Cơ quan điều tra đã thông báo kết luận giám định cho Q biết, Quyền hoàn toàn nhất trí với nội dung kết luận giám định, không có ý kiến, thắc mắc gì
Tại Cáo trạng số: 28/CT-VKS-KV10 ngày 30/3/2026 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10 – Phú Thọ truy tố Nguyễn Thế Quyền về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10 – Phú Thọ giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật như Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật hình sự
điểm i, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo từ 02 năm 06 tháng đến 02 năm 09 tháng. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam bị cáo và đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo nói lời sau cùng thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10 – Phú Thọ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Nguyễn Thế Q là đối tượng nghiện chất ma túy, đang trong thời gian quản lý sau cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 663/QĐ-UBND ngày 20 tháng 8 năm 2025 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã V, thời hạn 01 năm kể từ ngày 20/8/2025 đến ngày 20/8/2026. Ngày 18/01/2026, Q có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy loại Heroine tại nhà Quyền ở thôn Đ, xã V, tỉnh Phú Thọ. Ngày 20/01/2026, Công an xã V, tỉnh Phú Thọ triệu tập làm việc và thu giữ nước tiểu của Q để phục vụ giám định xác định chất ma túy. Kết quả giám định của Phòng K - Công an tỉnh P thể hiện: trong mẫu nước tiểu thu giữ của Nguyễn Thế Q gửi đến giám định tìm thấy chất ma túy, loại Morphine (Heroine).
Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Thế Q là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây mất trật tự trị an ở địa phương theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật hình sự, điều luật quy định: “1. Người nào sử dụng trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 03 năm: a)… b) Đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy;”
Xét lời nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp vật chứng của vụ án, kết luận giám định của Phòng K
- Công an tỉnh P, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10 – Phú Thọ. Như vậy có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Nguyễn Thế Q phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự.
Xét tính chất vụ án là ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước và xâm phạm trật tự, an toàn xã hội ở địa phương. Như chúng ta đã biết ma tuý đã gây tác hại rất lớn và ảnh hưởng rất xấu đến sức khoẻ con người, là nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội và tội phạm khác. Trong khi cả xã hội đang đấu tranh để đẩy lùi tệ nạn ma túy ra khỏi đời sống thì bị cáo lại làm cho tệ nạn ma túy ngày càng gia tăng. Bị cáo có đầy đủ nhận thức về tác hại của ma túy cho bản thân và xã hội nhưng vẫn thực hiện. Do vậy cần phải có hình phạt thật nghiêm khắc mới tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.
Xét nhân thân bị cáo là người có sức khoẻ, phát triển bình thường về thể chất và tinh thần nhưng không chịu làm ăn chân chính, ăn chơi nên nghiện ma túy. Về nhân thân: Bị cáo có 03 nhân thân đều liên quan đến ma túy. Tại Bản án số 346/2007/HSST ngày 10/8/2007 của Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội (cũ) xử phạt Nguyễn Thế Q 26 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự. Ngày 27/02/2009, Quyền chấp hành xong toàn bộ bản án. Tại Bản án số 130/2019/HSST ngày 08/11/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc (cũ) xử phạt Q 02 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Ngày 17/6/2021, Quyền chấp hành xong toàn bộ bản án. Ngày 11/02/2025, Nguyễn Thế Q có đơn đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện và ký hợp đồng dịch vụ cai nghiện ma túy tự nguyện với Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Vĩnh Phúc thời hạn 06 tháng từ ngày 11/2/2025 đến ngày 11/8/2025. Ngày 11/8/2025, Quyền hoàn thành cai nghiện ma túy tự nguyện tại cơ sở cai nghiện ma túy. Ngày 20/8/2025, Ủy ban nhân dân xã V ra Quyết định số 663 về việc quản lý sau cai nghiện tại nơi cư trú đối với Nguyễn Thế Q trong thời hạn 01 năm kể từ 20/8/2025 đến 20/8/2026. Bị cáo không lấy làm bài học mà lại tiếp tục thực hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Do các bản án trước bị cáo đã chấp hành xong toàn bộ bản án và thuộc trường hợp đã được xóa án tích nên lần phạm tội này bị cáo được coi là phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội đó là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo được hưởng theo quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có bố đẻ là ông Nguyễn Mạnh H tham gia kháng chiến được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba và mẹ đẻ là bà Bùi Thị C tham gia kháng chiến được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhất đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 52 Bộ luật hình sự. Vì vậy Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ phần nào hình phạt cho bị cáo có như vậy mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội như đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – Phú Thọ là phù hợp.
Đối với người tên B theo lời khai của Nguyễn Thế Q là người mua hộ gói ma túy heroine cho Q vào ngày 18/01/2026. Quá trình điều tra xác minh, xác định tại thôn Đ, xã V có anh Trần Văn B, sinh năm 1979, trú tại thôn Đ, xã V, tỉnh Phú Thọ. Ngày 21/01/2026, cơ quan điều tra đã triệu tập làm việc với anh B, quá trình làm việc anh B không thừa nhận hành vi mua hộ ma túy cho Q, đồng thời kiểm tra, xác minh tại nơi ở của anh B không thu giữ được vật chứng gì liên quan đến ma túy. Cơ quan điều tra, tiến hành cho Q và anh B đối chất, quá trình đối chất anh B vẫn không thừa nhận hành vi mua hộ gói ma túy cho Q. Do vậy, ngoài lời khai của Q thì không có tài liệu chứng cứ nào khác xác định anh B là người mua hộ ma túy cho Q vào ngày 18/01/2026. Hội đồng xét xử kiến nghị cơ quan điều tra tiếp tục điều tra xử lý theo quy định của pháp luật.
Về xử lý vật chứng: Đối với bật lửa, giấy bạc Quyền sử dụng làm công cụ Sử dụng trái phép chất ma túy. Sau khi sử dụng, Quyền không nhớ để ở đâu, cơ quan điều tra tiến hành xác minh nhưng không thu giữ được. Do vậy HĐXX không xem xét.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thế Q phạm tội: “ Sử dụng trái phép chất ma tuý”.
1. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 256a, điểm i, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thế Q 02 (Hai) năm (08) Tám tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 20 tháng 01 năm 2026.
2. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo Nguyễn Thế Q phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - VKSND Khu vực 10 – Phú Thọ; - VKSND tỉnh Phú Thọ; - CQTHAHS Công an tỉnh Phú Thọ; - Trại tạm giam cơ sở 2, tỉnh Phú Thọ; - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng - UBND xã Vĩnh Hưng; - Lưu HS + VP. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Văn Duẩn |