- Tranh chấp gì? án hình sự — "Thắng - phạm tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật (điều 157 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Dương Văn Th phạm tội “Bắt, giữ người trái pháp luật” và “Cướp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH XUYÊN TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 84/2025/HS-ST Ngày 06 tháng 6 năm 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH XUYÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phương Dung.
Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Nguyễn Văn Hảo;
- Ông Nguyễn Quang Thái.
Thư ký phiên toà: Bà Khổng Thị Đức Hậu- Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Bình Xuyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 69/2025/HS-ST ngày 28 tháng 4 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 85/2025/HSST- QĐ ngày 14 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo:
Dương Văn Th , sinh ngày 16 tháng 7 năm 1999 tại Vĩnh Phúc; nơi cư trú: Khu phố I, thị trấn H C, huyện B X, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Văn T và bà Trần Thị M (đã chết); vợ, con: chưa có; tiền án,tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại, “có mặt”.
- Bị hại: Anh Lương Văn D , sinh năm 2002; địa chỉ: Thôn Tr K, xã Ph L, huyện S D, tỉnh Tuyên Quang, “vắng mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Anh Lương Văn D thuê trọ ở phòng số 207 của gia đình ông Yên ở thôn Ngũ Hồ, xã Thiện Kế, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc. Tháng 3/2022, qua mạng xã hội Facebook, chị Hán Phạm Quỳnh Anh là chủ tài khoản facebook “Quỳnh Chi” thoả thuận với anh D về việc thuê anh D tăng số người Like các bài đăng trên tài khoản facebook của chị Q Anh, cứ 1000 like thì Quỳnh Anh sẽ trả cho anh D 20.000 đồng thì anh D đồng ý. Sau đó, chị Q Anh đã chuyển cho anh D số tiền 1.100.000 đồng. Do số lượt tăng like nhiều nên anh D chưa làm xong dịch vụ tăng like theo thỏa thuận nên ngày 9/3/2022, chị Q Anh gọi điện cho anh D thì không liên lạc được nên chị Q Anh vào tài khoản Zalo của D để tìm hiểu thông tin. Theo đó, chị Q Anh thấy D để hình đại diện là quán Karaoke C Huyền có kèm theo số điện thoại nên khoảng 23h00 ngày 10/3/2022, chị Q Anh tiếp tục gọi vào số điện thoại đăng trên biển quảng cáo thì chị Ma Thị H là chủ quán nghe máy. Chị Q Anh trao đổi với chị H về mục đích cuộc gọi của mình sau đó chị H đã nói lại chuyện này cho chồng là Diệp Quốc C . Sau đó, C lấy cớ D đã sử dụng hình ảnh liên quan đến cá nhân mình để đi lừa người khác nên sử dụng tài khoản Facebook “C Seven Híp” của C đăng hình ảnh và số điện thoại của D lên trang cá nhân của C để nhờ cộng đồng mạng cung cấp thông tin của D nhằm mục đích bắt D bồi thường tiền cho C . Sau khi C đăng tin thì tài khoản Zalo là “Hoàn Văn Luân” nhắn tin cung cấp cho C địa chỉ nơi D đang ở trọ. Đến khoảng 00h ngày 11/3/2022, khi C đang ở quán của mình thì có Lưu Văn T , Trần Văn T , Bàn Phúc Ch và Dương Văn Th đến quán chơi. Tại đây, C nói với Th , T , T và Ch “Có thằng lấy biển quán hát nhà tao làm ảnh đại diện Zalo đi lừa tiền người khác, sáng mai nhờ anh em đi cùng đưa nó về đây nói chuyện” thì Th , T , T và Ch đồng ý. Sau đó, C đi vào phòng ngủ, còn Th , T , T và Ch ngủ tại ghế sofa. Khoảng 06h30 cùng ngày C gọi 1 xe taxi (không nhớ hãng, không nhớ người lái xe) cùng Th , T , T và Ch đi đến thôn Ngũ Hồ, xã Thiện Kế, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc tìm D theo thông tin đã được cung cấp trước đó. Sau khi trả khách, lái xe taxi điều khiển xe đi còn nhóm của C đi bộ lên tầng 2, đến phòng 207 thấy cửa phòng mở hé, C đẩy cửa vào thấy D đang ở trong phòng cùng với anh Sầm Văn Đường (là bạn D ). C chỉ tay vào anh D và nói “xuống kia nói chuyện với tao”, lúc này thấy nhóm của C đông nên anh D sợ phải đi theo C (C đi đầu tiên sau đó đến anh D , Ch , T , Toàn, Th ). Khi xuống tầng 1, C hỏi anh D “Xe mày đâu” (ý hỏi xe mô tô của anh D đâu) thì anh D nói “Xe em để ở lán ”; C hỏi D “Chìa khóa xe đâu” D nói chìa khóa ở trên phòng thì C bảo Th đi lên phòng lấy chìa khóa điều khiển xe Honda Wave BKS: 22B2 -760.43 của D đi về quán hát, còn C cùng T , T và Ch đưa D xuống cổng dãy trọ gọi xe taxi của anh Vũ Xuân Trung đến đón. C , T , T và Ch bắt anh D lên xe taxi. C ngồi ở hàng ghế đầu, Ch ngồi phía sau bên trái rồi đến anh D , T và Toàn. Về đến quán nhóm của C đưa anh D lên tầng 2. Tại đây Th chỉ vào bộ bàn ghế sofa và bảo anh D “Mày ngồi ở đấy”. Sau đó, C ngồi đối diện anh D , dùng tay phải túm lấy tóc của anh D giật ngược ra đằng sau. T ngồi bên phải D còn Th và T đứng bên trái anh D dùng tay đánh vào mặt vào đầu anh D , Ch dùng dép đánh vào mặt anh D . C bắt D trả 1.100.000 đồng cho chị Q Anh, D lấy điện thoại chuyển trả vào tài khoản của Quỳnh Anh 1.100.000 đồng; sau đó Th yêu cầu anh D phải chuyển số tiền 1.000.000 đồng là tiền chi phí đi tìm D . Lúc này Lý Văn Nghĩa đang đánh Pia ở quán, biết và chứng kiến việc nhóm của C đánh, đe dọa anh D và chiếm đoạt số tiền 1.000.000 đồng nhưng khi Th hỏi mượn số tài khoản để anh D chuyển tiền, Nghĩa vẫn đồng ý. Th bắt anh D đăng nhập ứng dụng MB Bank của anh D rồi đưa điện thoại cho Th chuyển số tiền 1.000.000 đồng vào tài khoản của Nghĩa. Sau đó, C nói với anh D “Bây giờ một là mày gọi bố xuống đây giải quyết hai là tao báo Công an”. Vì sợ C đánh và báo công an nên anh D xin gọi điện về gia đình để giải quyết tình cảm. Sau đó D gọi điện cho bố là ông Lương Văn Chung xuống. Lúc này, C bảo Th , T , T và Ch ở lại canh chừng D còn C đi ngủ. Đến khoảng 12h00 cùng ngày T , T và Ch ra về còn Th ở lại quán. Đến khoảng 14h00, ông Chung cùng với anh Lương Văn Chức đi đến quán. Tại đây, C nói với Chung là D lấy biển hiệu của quán làm ảnh đại diện để đi lừa đảo đồng thời đe dọa ông Chung phải bồi thường danh dự cho C số tiền 30.000.000 đồng nếu không C sẽ báo Công an. Ông Chung lo sợ C sẽ báo công an nên đồng ý và vì không đủ tiền nên xin giảm bớt và C đồng ý giảm còn 20.000.000 đồng; ông Chung chỉ có 7.000.000 đồng đưa cho C nên C bắt D phải viết giấy bán xe mô tô Honda Wave BKS: 22B2-760.43 cho C với giá 13.000.000 đồng và bảo Th chở anh D về phòng trọ lấy đăng ký xe. C nhận giấy bán xe cùng đăng ký xe của D xong thì ông Chung anh Chức và anh D ra về. Sau đó anh Lương Văn D có đơn trình báo và đề nghị CQĐT xử lý C cùng đồng bọn theo quy định của pháp luật.
Ngày 12/3/2022, Diệp Quốc C đã đến Công an huyện Bình Xuyên đầu thú và khai nhận T bộ hành vi phạm tội. CQĐT đã triệu tập T , Toàn, Th , Ch và Nghĩa đến làm việc sau đó Toàn, Th và Ch đã bỏ trốn khỏi địa phương. Ngày 13/6/2022, CQĐT đã ra Quyết định truy nã đối với Toàn, Th và Ch . Ngày 14/6/2022, Trần Văn T và Bàn Phúc Ch đã đến CQĐT đầu thú. Tại bản án hình sự sơ thẩm số 50/HS-ST ngày 31 tháng 3 năm 2023, Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên đã xét xử các bị cáo: Diệp Quốc C , Bàn Phúc Ch , Trần Văn T , Lưu Văn T và Lý Văn Nghĩa. Đồng thời xử lý vật chứng của vụ án và giải quyết về trách nhiệm dân sự đối với các bị cáo nêu trên.
Đối với Dương Văn Th , sau hơn 02 năm 06 tháng trốn truy nã, ngày 21/12/2024 Th đã đến CQĐT đầu thú và thành khẩn khai nhận T bộ hành vi phạm tội của mình; lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo khác; với bị hại; với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; với người làm chứng; với vật chứng đã được thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 33/KL-HĐĐGTS ngày 18/3/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Bình Xuyên kết luận: Giá trị của xe mô tô Honda Wave BKS: 22B2 - 760.43 tại thời điểm bị chiếm đoạt là 15.500.000đ. Các bị cáo và bị hại đã được thông báo kết quả định giá và không ai có ý kiến gì.
Tại Cáo trạng số: 69/CT-VKSBX ngày 28/4/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố Dương Văn Th về tội “Cướp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 168 của Bộ luật Hình sự và tội “ Bắt giữ người trái pháp luật ” theo quy định tại khoản 1 Điều 157 của Bộ luật Hình sự;
Bị hại là anh Lương Văn D tuy vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong quá trình điều tra đã khai đầy đủ phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án và diễn biến T bộ nội dung vụ án phù hợp với lời khai của bị cáo.
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo Dương Văn Th đã khai nhận T bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên trình bày bản luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 168; khoản 1 Điều 157; điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Dương Văn Th 03 năm 03 tháng đến 03 năm 09 tháng tù về tội “Cướp tài sản”; 06 tháng đến 09 tháng tù về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù chung của cả hai tội là 03 năm 09 tháng đến 04 năm 03 tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt đi thi hành án.
Bị cáo Dương Văn Th đã thành khẩn khai nhận T bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên; bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai nhận tội của bị cáo Dương Văn Th tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo khác, của bị hại, của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, của người làm chứng được đã được sao chép và lưu giữ trong hồ sơ, phù hợp vật chứng thu được và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, có đủ căn cứ kết luận:
Do Diệp Quốc C lấy lí do anh Lương Văn D sử dụng hình ảnh quán Karaoke của mình làm ảnh đại diện để lừa đảo chị Q Anh nên khoảng 06h30 ngày 11.3.2022, Diệp Quốc C rủ Dương Văn Th , Bàn Phúc Ch , Trần Văn T , Lưu Văn T đi đến phòng trọ số 207 của Lương Văn D ở thôn Ngũ Hồ, xã Thiện Kế, huyện Bình Xuyên để bắt D lên xe taxi đưa về quán karaoke C Huyền ở thôn Trung Mầu, xã Trung Mỹ, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc. Tại đây, C túm tóc D giật ngược ra đằng sau; Th , T , T và Ch dùng tay, dép đánh vào mặt vào đầu D rồi bắt D chuyển số tiền 1.000.000đ vào tài khoản của Lý Văn Nghĩa để chiếm đoạt. C tiếp tục đe dọa D và ông Lương Văn Chung (là bố của D ) để chiếm đoạt của ông Chung số tiền 7.000.000đ; của D xe mô tô BKS 22B2: 760.43 có trị giá theo định giá là 15.500.000đ.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 50/HS-ST ngày 31 tháng 3 năm 2023, Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên đã xét xử các bị cáo Diệp Quốc C , Bàn Phúc Ch , Trần Văn T , Lưu Văn T về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật” và các bị cáo Diệp Quốc C , Bàn Phúc Ch , Trần Văn T , Lưu Văn T và Lý Văn Nghĩa về tội "Cướp tài sản". Do Dương Văn Th bỏ trốn khỏi địa phương nên Cơ quan CSĐT đã ra Quyết định truy nã đối với Th và Quyết định tách vụ án hình sự, tách hành vi đối với Dương Văn Th . Ngày 21/12/2024 Th đã đến CQĐT đầu thú nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử đối với Dương Văn Th .
Như vậy, hành vi của Dương Văn Th cùng đồng phạm bắt ép anh Lương Văn D phải lên xe taxi và đưa anh D về giữ ở quán Karaoke của C đã phạm vào tội “Bắt, giữ người trái pháp luật”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 157 của Bộ luật Hình sự có khung hình phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
Hành vi của Dương Văn Th cùng đồng phạm có hành vi đánh, đe dọa rồi chiếm đoạt của anh D số tiền 1.000.000 đồng và 01 xe mô tô BKS: 22B2-760.43 theo Kết luận định giá là 15.500.000 đồng; của ông Chung số tiền
7. 000.000 đồng đã phạm vào tội "Cướp tài sản", tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 168 Bộ luật Hình sự có khung hình phạt từ 03 năm đến 10 năm.
Do vậy, việc Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên truy tố bị cáo Dương Văn Th về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật” theo khoản 1 Điều 157 Bộ luật Hình sự và tội "Cướp tài sản" theo khoản 1 Điều 168 Bộ luật Hình sự là hoàn T có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và không oan.
Xét tính chất vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe, thân thể, quyền tự do của công dân; xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của cá nhân được pháp luật bảo vệ. Hành vi phạm tội của bị cáo làm mất trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang cho bị hại và bất bình trong quần chúng nhân dân. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm bị cáo trước pháp luật mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
. Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy:
Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo; bồi thường tổn thất tinh thần cho bị hại; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo đã tham gia và hoàn thành nghĩa vụ quân sự; bị cáo có hoàn cảnh gia đình hết sức khó khăn: mẹ bị cáo chết sớm, bị cáo sinh sống cùng bố tuy nhiên bố bị cáo thường xuyên vắng nhà, thiếu quan tâm đến bị cáo nên bị cáo không nhận được sự yêu thương, dạy dỗ từ phía gia đình vì vậy bị cáo có lối sống buông thả, thiếu trách nhiệm; sau khi phạm tội do thiếu hiểu biết và lo sợ nên bị cáo đã trốn khỏi địa phương nhưng sau khi bình T và suy nghĩ lại bị cáo đã ra đầu thú. Do đó bị cáo được hưởng tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Bị cáo Dương Văn Th là đồng phạm với vai trò giúp sức cho C trong việc bắt, giữ và cướp tài sản; hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng nên cần xử lý nghiêm trước pháp luật. Thấy rằng, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật; phù hợp với tính chất, mức độ, vai trò phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng. Mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là đủ để răn đe, cũng như tạo điều kiện giúp bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm, yên tâm cải tạo trở thành công dân có ích. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát về phần hình phạt đối với Dương Văn Th .
Về trách nhiệm dân sự: Xác nhận bị cáo Dương Văn Th tự nguyện bồi thường cho anh D số tiền 5.000.000 đồng, anh D đã nhận tiền và không yêu cầu gì khác đồng thời đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 6 Điều 168 của Bộ luật Hình sự thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000đ đến 100.000.000đ. Tuy nhiên, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa xác định bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Về các vấn đề khác: Bị cáo Dương Văn Th phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Dương Văn Th phạm tội “Bắt, giữ người trái pháp luật” và “Cướp tài sản”.
Căn cứ khoản 1 Điều 157; khoản 1 Điều 168; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 55; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt Dương Văn Th 03 (Ba) năm 03 (Ba) tháng tù về tội “Cướp tài sản”, 06 (Sáu) tháng tù về tội “bắt giữ người trái pháp luật”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù chung của cả hai tội là 03 (Ba) năm 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án; buộc bị cáo Dương Văn Th phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc; - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc; - VKSND huyện Bình Xuyên; - Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh Vĩnh Phúc; - Phòng hồ sơ nghiệp vụ - Công an tỉnh Vĩnh Phúc; - Phòng THA HS và HTTP - Công an tỉnh Vĩnh Phúc; - Chi cục THADS huyện Bình Xuyên; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu: Hồ sơ vụ án; Văn phòng | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Phương Dung |