vanban.org

Bản án 84/2025/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 10 - Đà Nẵng, TP Đà Nẵng Tuyên án 27/09/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Thị Thanh V phạm tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt: Bị cáo 12 (Mười hai) tháng Cải tạo không giam giữ. Thời điểm bắt đầu tính thời gian cải tạo không giam giữ là ngày Cơ quan thi hành án Công an thành phố Đà Nẵng nhận được Quyết định thi hành án. Giao bị cáo Hoàng Thị Thanh V cho Ủy ban nhân dân xã T, thành phố Đà Nẵng giám sát, giáo dục tro… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Hoàng Thị Thanh V phạm tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ”. - phạm tội giao c…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Thị Thanh V phạm tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 8 Luật Giao thông đường bộ; Nghị quyết số Số: 02/2022/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số q…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 10 – ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 84/2025/HS-ST
Ngày 27-9-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Thể.

Các Hội thẩm nhân dân: - Bà Lương Thị Kim Anh.

- Ông Nguyễn Lương Thành.

- Th ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Thúy Hằng, Th ký Tòa án nhân dân Khu vực 10 – Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10 – Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Xân - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2025, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân Khu vực 10 – Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 41/2025/TLST-HS ngày 10 tháng 9 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 78/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 9 năm 2025, đối với bị cáo:

Hoàng Thị Thanh V; sinh năm: 1989, tại Điện Bàn, Quảng Nam; nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Mộng L (chết) và bà Nguyễn Thị N (chết); chồng Nguyễn Văn H, sinh năm: 1983 và có 02 con, lớn sinh năm 2010 nhỏ sinh năm 2014. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại:

+ Ông Đoàn Ngọc Ng, sinh năm: 1974.

Người đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Trần Thị L, sinh năm: 1979 (vợ ông Ng).

Nơi cư trú: Tổ 27HK, phường Thanh Khê Đông, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.

+ Ông Hồ Văn B, sinh năm: 1939. Vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn Đ, T, thành phố Đà Nẵng.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Cháu Nguyễn Hoàng M, sinh ngày 22/02/2010. Có mặt.

+ Người đại diện hợp pháp của cháu Nguyễn Hoàng M: Bà Hoàng Thị Thanh V và

ông Nguyễn Văn H, sinh năm: 1983 (cha mẹ ruột cháu M). Có mặt.

Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, thành phố Đà Nẵng.

+ Bà Nguyễn Thanh Th, sinh năm: 2004. Vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn Ch, xã T, thành phố Đà Nẵng.

+ Ông Hoàng Mộng S, sinh năm: 1983. Vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn K, xã T, thành phố Đà Nẵng.

- Người làm chứng:

+ Bà Nguyễn Thị L, sinh năm: 1984. Có mặt.

+ Ông Nguyễn X, sinh năm: 1979. Có mặt.

Cùng địa chỉ: Thôn Đ, xã T, thành phố Đà Nẵng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Sáng ngày 03/4/2024, bà Nguyễn Thị L nhờ bị cáo V đến nhà chị Nguyễn Thanh Th để chở cháu Nguyễn Quang Hoàng Ph, sinh năm: 2003 (là con của Th) đến nhà bà L. Bị cáo đồng ý rồi điều khiển xe mô tô hiệu SMASH, loại FK110D, màu đen BKS 92H2-2744 chở theo con gái Nguyễn Hoàng M cùng đến nhà chị Th. Trên đường về, do cháu Ph quấy khóc nên bị cáo giao xe cho M điều khiển còn bị cáo ngồi phía sau bồng cháu Ph. M đang điều khiển xe lưu thông trên đường ĐH1 thuộc thôn Châu Lâu, xã Điện Thọ, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam (Nay là xã T, thành phố Đà Nẵng) theo hướng Phong Thử đi Điện Hoà để đến nhà bà L. Đến khoảng 09 giờ cùng ngày, khi M điều khiển xe mô tô BKS 92H2-2744 đi đến đoạn Km 01+300 đường ĐH1 (đây là đoạn đường thẳng, hai bên đường là ruộng lúa, không bị che khuất tầm nhìn, mặt đường được thảm bằng bê tông xi măng, bằng phẳng, rộng tổng thể 5,5m); do M không chú ý quan sát, không giữ khoảng cách an toàn với xe đi phía trước nên xe của M đã tông vào xe đạp do ông Hồ Văn B điều khiển đang đi cùng chiều phía trước làm cho xe đạp ngã Xống đường và xe mô tô BKS 92H2-2744 ngã sang bên trái rồi trượt sang phần đường ngược lại va chạm với xe mô tô hiệu Honda, loại Future, màu xanh xám, BKS 43D1-704.40 do ông Đoàn Ngọc Ng đang điều khiển trên phần đường bên phải theo hướng Điện Hoà đi Phong Thử nên xảy ra tai nạn. Hậu quả: 03 xe bị hư hỏng, ông Đoàn Ngọc Ng bị Thương tíchđược đưa đến Bệnh viện Đa khoa khu vực Quảng Nam, sau đó chuyển Bệnh viện Đa khoa Đà Nẵng, Bệnh viện Chỉnh hình và Phục hồi chức năng Đà Nẵng cấp cứu, điều trị và phục hồi chức năng, đến ngày 04/9/2024 thì Xất viện.

Tại bản Kết luận giám định tổn Thương cơ thể trên người sống số 1462/KL-KTHS ngày 26/7/2024 của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng kết luận: Tổng tỷ lệ phần trăm tổn Thương cơ thể của ông Đoàn Ngọc Ng tại thời điểm giám định là 80%. Hiện tại, ông Đoàn Ngọc Ng đang điều trị tại Bệnh viện, chưa đánh giá hết được các di chứng chấn Thương (nếu có). Khi ông Ng đã điều trị ổn định, xuất viện, đề Nghị Cơ quan CSĐT Công an thị xã Điện Bàn đưa ông Ng đến Phân viện KHHS tại thành phố Đà Nẵng giám định bổ sung để xác định đầy đủ tỷ lệ tổn Thương cơ thể.

Tại bản Kết luận giám định bổ sung tổn Thương cơ thể trên người sống số 44/KL-KTHS ngày 24/01/2025 của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng kết luận: Tổng tỷ lệ tổn Thương cơ thể của ông Đoàn Ngọc Ng tại thời điểm giám định bổ sung là 92%.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 11/HĐĐGTSTTTHS ngày 25/02/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng Hình sự thị xã Điện Bàn kết luận: Tổng giá trị thiệt hại của xe đạp thô sơ sau tai nạn là 200.000 đồng.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 12/HĐ.ĐG ngày 25/02/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng Hình sự thị xã Điện Bàn kết luận: Tổng giá trị thiệt hại của xe mô tô Honda Future BKS 43D1-704.40 sau tai nạn là 2.001.000 đồng.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 13/HĐĐGTSTTTHS ngày 25/02/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng Hình sự thị xã Điện Bàn kết luận: Tổng giá trị thiệt hại của xe mô tô hiệu Smash FK110D BKS 92H2-2744 sau tai nạn là 1.100.000 đồng.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại đều thống nhất và không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận của Hội đồng định giá nêu trên.

Vật chứng thu giữ trong vụ án:

- 01 Giấy phép lái xe hạng A1, số AH082091, không thời hạn do Sở Giao thông vận tải tỉnh Quảng Nam cấp ngày 15/12/2008, mang tên Hoàng Thị Thanh V.

- 01 xe mô tô hiệu Smash, loại FK110D, màu đen BKS 92H2-2744 do ông Hoàng Mộng S đứng tên chủ sở hữu.

- 01 xe mô tô hiệu Honda, loại Furture, màu xanh xám, BKS 43D1-704.40 và giấy tờ liên quan do anh Đoàn Ngọc Ng đứng tên chủ sở hữu.

- 01 xe đạp: Cơ quan điều tra đã trả cho chủ sở hữu hợp pháp là ông Hồ Văn B.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10 – Đà Nẵng vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố tại Cáo trạng số 33/CT-VKS ngày 20 tháng 4 năm 2025 đối với bị cáo Hoàng Thị Thanh V về tội: “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ” và đề Nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 264; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự năm 2015; xử phạt bị cáo từ 18 đến 24 tháng Cải tạo không giam giữ và không khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường số tiền 26.000.000 đồng, số tiền còn lại theo yêu cầu của đại diện bị hại đề Nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo quy định pháp luật.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề Ng Hội đồng xét xử tuyên xử lý các vật chứng theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra Công an thị xã Điện Bàn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Điện Bàn, Kiểm sát viên (Nay là VKSND Khu vực 10 – Đà Nẵng) đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

. Về tội danh: Tai phiên tòa bị cáo V khai nhận: Vào sáng ngày 03/4/2024, bị cáo đi làm công nhân nên bị cáo không trực tiếp giao xe cho con gái Nguyễn Hoàng M. Khoảng 09 giờ cùng ngày, cháu M tự điều khiển xe mô tô biển kiểm soát (BKS) 92H2-2744 đến nhà chị Nguyễn Thanh Th tại thôn Ch, xã T, thành phố Đà Nẵng để chở chị Th và cháu Nguyễn Quang Hoàng Ph, sinh năm: 2003 (là con của Th) đến nhà bà L. Trên đường đi thì xảy ra tai nạn gây Thương tíchcho ông Đoàn Ngọc Ng với tổng tỷ lệ tổn Thương cơ thể 92%. Việc cháu M điều khiển xe chở chị Th, cháu Ph và gây tại nạn bị cáo hoàn toàn không biết. Vì vậy, bị cáo cho rằng Cáo trạng số 33/CT-VKS ngày 20 tháng 4 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Điện Bàn (Nay là Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10 – Đà Nẵng) và quan điểm luận tội của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa là không có căn cứ, không đúng pháp luật.

Hội đồng xét xử xét thấy, mặc dù tại phiên tòa bị cáo V khai không trực tiếp điều điển xe mô tô BKS 92H2-2744 và không giao xe cho cháu M điều khiển, nhưng trong quá trình điều tra, truy tố thì không có tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh; lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay mâu thuẫn với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và nội dung diễn biến tại phiên tòa ngày 14/8/2025. Do đó việc thay đổi lời khai của bị cáo là không có cơ sở chấp nhận. Hội đồng xét xử đã trả hồ sơ để điều tra bổ sung, nhưng Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố. Do phạm vi giới hạn xét xử theo quy định tại Điều 298 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, nên Tòa án xét xử theo tội danh đã truy tố tại Cáo trạng số 33/CT-VKS ngày 20 tháng 4 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Điện Bàn (nay là Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10 – Đà Nẵng) đối với bị cáo về tội:“Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại khoản 1 Điều 264 Bộ luật hình sự năm 2015 và quan điểm luận tội của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa là phù hợp.

. Xét tính chất vụ án, hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Bị cáo Hoàng Thị Thanh V biết rõ con gái của mình là cháu Nguyễn Hoàng M chưa đủ tuổi điều khiển phương tiện xe mô tô BKS 92H2-2744, có dung tích xi lanh trên 50 cm3 và không có bằng lái xe theo quy định, nhưng bị cáo vẫn giao xe cho M điều khiển gây tai nạn dẫn dẫn đến hậu quả ông Đoàn Ngọc Ng bị Thương tích92%, ông Hồ Văn B bị thương nhẹ và 03 xe bị hư hỏng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng và an toàn giao thông tại địa phương, nên cần phải xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với hành vi do bị cáo gây ra để ren đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Bị cáo không có tiền án, tiền sự; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Sau khi phạm tội, bị cáo đã tự nguyện bồi thường 01 phần thiệt hại với số tiền 26.000.000 đồng nhằm khắc phục hậu quả cho người bị hại. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, i khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 để xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Xét thấy, bị cáo làm công nhân, thu nhập thấp và đang nuôi con nhỏ nên Hội đồng xét xử không khấu trừ thu nhập của bị cáo theo quy định tại khoản 3 Điều 36 của Bộ luật Hình sự.

. Những vấn đề liên quan trong vụ án:

- Qua nghiên cứu hồ sơ vụ án và xem xét thông báo về việc tiếp nhận tin báo tội phạm số 842/QĐ ngày 09/4/2024, báo cáo đề xuất, kế hoạch điều tra xác minh, báo cáo kết quả khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông ngày 03/4/2024 (bút lục 27, 177, 182, 186) và biên bản vụ việc hành chính ngày 03/4/2024 (bút lục 189), biên bản khám nghiệm hiện trường tại các bút lục 190 đến 207 và bản tự khai, lời khai của bị cáo V, cháu Nguyễn Hoàng M ngày 15/4/2024 tại các bút lục 254, 255, 266, 267; diễn biến tại phiên toà ngày 14/8/2025, có cơ sở xác định hành vi của bị cáo Hoàng Thị Thanh V có dấu hiệu của tội:“Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015. Vì vậy, căn cứ Điều 143, 144 Bộ luật tố tụng Hình sự kiến nghị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng và Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xem xét lại hành vi của bị cáo Hoàng Thị Thanh V là người trực tiếp điều khiển xe mô tô biển kiểm sát 92H2-2744, có dung tích xi lanh trên 50 cm3 gây tai nạn với hậu quả ông Đoàn Ngọc Ng bị Thương tích92% và xem xét lại tội danh đối với bị cáo V.

- Đối với hành vi của cháu Nguyễn Hoàng M đã phạm vào khoản 9, 23 Điều 8, khoản 1 Điều 12, điểm b khoản 1 Điều 60 Luật Giao thông đường bộ 2008 gây hậu quả làm ông Đoàn Ngọc Ng bị thương tích tỷ lệ 92%. Tuy nhiên, căn cứ Điều 12 Bộ luật Hình sự thì cháu Nguyễn Hoàng M (sinh ngày 22/02/2010) chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Do đó, hành vi của cháu M không đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại Điều 260 Bộ luật Hình sự. Cơ quan điều tra đã chuyển xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Hoàng M nên Hội đồng xét xử không xét.

. Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm gồm: Chi phí điều trị tại bệnh viện số tiền: 58.214.006đ; Tiền mua thuốc: 37.662.000đ; Tiền mua baby tả lốt, sữa, cháo, thức ăn dinh dưỡng: 66.405.000đ; Tiền thuê tắm, tập phục hồi chức năng và công bê đi tập: 27.400.000đ; Tiền mua dụng cụ đặt sten khí quản, ống canin, xe lăn: 18.050.000đ; tiền sửa xe Honda: 5.000.000đ; Thu nhập thức tế bị mất: 174.000.000đ (gồm: Thu nhập thực tế bị mất của bà Trần Thị L do nghỉ việc để chăm sóc là: 96.000.000đ = 8 tháng x 12.000.000 đ/tháng kể từ tháng 5/2024 đến tháng 12/2024. Thu nhập thức tế bị mất của ông Đoàn Ngọc Ng: 78.000.00đ = 07 tháng x 11.143.000đ; tính 7 tháng kể từ tháng 6/2024 đến tháng 12/2024). Tổn thất tinh thần: 100.000.000đ (yêu cầu bồi thường 43 tháng = 43x 2.340.000đ do hậu quả thương tật nặng 92%); Chi phí tập vật lý trị liệu: 10.400.000 đ/tháng x 7 tháng = 72.800.000đ (từ tháng 01 đến tháng 7/2025); Bồi thường do mất khả năng lao động đến tuổi 60 từ năm 2025 đến 2033 (8 năm): 400.000.000đ (tạm tính mức thấp) theo mức lương tối thiểu vùng 4.410.000 đ/tháng x 12 tháng x 8 năm. Ngoài các chi phí trên do ông Đoàn Ngọc Ng chưa tự đi lại được cần phải có người chăm sóc (bà Trần Thị L chăm sóc) gia đình đề xuất chi phí chăm sóc từ tháng 01/2025 đến tháng 12/2025 là 460.000 đ/1 ngày x 365 ngày với số tiền: 167.900.000đ. Tổng số tiền mà đại diện của người bị hại yêu cầu là: 1.127.431.006 đồng.

Xét thấy, theo nội dung đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại và các tài liệu, chứng cứ do người đại diện hợp pháp của bị hại cung cấp xác định: Đối với các khoản yêu cầu có hóa đơn chứng từ được Hội đồng xét xử chấp nhận, gồm: Chi phí điều trị tại bệnh viện số tiền: 58.214.006đ; Tiền mua thuốc có hóa đơn là 4.262.000đ; tiền sửa xe Honda: 5.000.000đ; Thu nhập thức tế bị mất: 174.000.000đ (gồm: Thu nhập thực tế bị mất của bà Trần Thị L là: 96.000.000đ = 8 tháng x 12.000.000 đ/tháng, kể từ tháng 5 đến tháng 12/2024; Thu nhập thức tế bị mất của ông Đoàn Ngọc Ng: 78.000.00đ = 07 tháng x 11.143.000đ; tính 7 tháng kể từ tháng 6 đến tháng 12/2024). Tổn thất tinh thần: 100.000.000đ (yêu cầu bồi thường 43 tháng = 43 x 2.340.000đ do hậu quả thương tật nặng 92%); Chi phí tập vật lý trị liệu: 10.400.000 đ/tháng x 7 tháng = 72.800.000đ (từ tháng 01 đến tháng 7/2025); Bồi thường do mất khả năng lao động đến tuổi 60 từ năm 2025 đến 2033 (8 năm): Chấp nhận theo mức lương cơ sở 2.340.000đ x 12 tháng x 08 năm = 224.640.000đ). Chi phí do ông Đoàn Ngọc Ng chưa tự đi lại được cần phải có người chăm sóc từ tháng 01/2025 đến tháng 12/2025 chấp nhận là 12 tháng x 4.410.000đ (lương tối thiểu vùng theo Ng định 128/2025) = 52.920.000đ. Tổng số tiền được chấp nhận là 507.710.000 đồng, bị hại đã bồi thường số tiền 26.000.000 đồng, số tiền còn phải bồi thường là 481.710.000 đồng.

Ngoài ra, do ông Đoàn Ngọc Ng bị thương tích92% là mất hoàn toàn khả năng lao động, nên ông Ng được hưởng tiền bồi thường từ thời điểm mất hoàn toàn khả năng lao động cho đến khi chết theo quy định tại khoản 1 Điều 593 Bộ luật dân sự năm 2015. Tuy nhiên, tại đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại ngày 25/9/2025 và tại phiên tòa, người đại diện diện hợp pháp của ông Ng - bà Trần Thị L chỉ yêu cầu bồi thường đến 60 tuổi. Do đó, bà Trần Thị L có quyền yêu cầu bị cáo tiếp tục bồi thường thiệt hại do mất khả năng lao động cho đến khi người bị thiệt hại chết tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền giải quyết.

. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; tuyên:

- Trả lại cho bị cáo 01 Giấy phép lái xe hạng A1, số AH082091, không thời hạn do Sở Giao thông vận tải tỉnh Quảng Nam cấp ngày 15/12/2008, mang tên Hoàng Thị Thanh V.

- Đối với 01 xe mô tô hiệu Smash, loại FK110D, màu đen BKS 92H2-2744 do ông Hoàng Mộng S đứng tên chủ sở hữu giao Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục tạm giữ để điều tra, xử lý sau.

- Đối với xe mô tô hiệu Honda, loại Furture, màu xanh xám, BKS 43D1-704.40 và giấy tờ liên quan do anh Đoàn Ngọc Ng đứng tên chủ sở hữu và 01 xe đạp: Cơ quan điều tra đã trả cho chủ sở hữu hợp pháp nên khồng đề cập đến.

- Đối với 01 đĩa DVD (đã được niêm phong) ghi lại quá trình hỏi cung bị cáo, đây là chứng cứ xác định hành vi phạm tội nên cần tuyên lưu theo hồ sơ vụ án.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 264; điểm b, i khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Thị Thanh V phạm tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ”.

1. Xử phạt: Bị cáo 12 (Mười hai) tháng Cải tạo không giam giữ. Thời điểm bắt đầu tính thời gian cải tạo không giam giữ là ngày Cơ quan thi hành án Công an thành phố Đà Nẵng nhận được Quyết định thi hành án.

Giao bị cáo Hoàng Thị Thanh V cho Ủy ban nhân dân xã T, thành phố Đà Nẵng giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành án; gia đình của bị cáo V có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương giám sát, giáo dục bị cáo; trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 96 Luật thi hành án hình sự. Không khấu trừ thu nhập đối với bị cáo Hoàng Thị Thanh V.

2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 584, 585, 590, 593 Bộ luật dân sự năm 2015 và Ng quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về viêc: “Hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng”.

- Buộc bị cáo phải có nghĩa vụ bồi thường cho đại diện hợp pháp của bị hại số tiền là 481.710.000 (Bốn trăm tám mươi mốt triệu bảy trăm mười nghìn đồng). Đại diện hợp pháp của bị hại – bà Trần Thị L (vợ ông Ng) được nhận số tiền này.

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

- Người đại diện hợp pháp của bị hại - bà Trần Thị L có quyền yêu cầu bị cáo tiếp tục bồi thường thiệt hại do mất khả năng lao động cho đến khi người bị thiệt hại chết tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền giải quyết theo quy định tại khoản 1 Điều 593 Bộ luật dân sự năm 2015, nếu bà L có yêu cầu.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; tuyên:

- Trả lại cho bị cáo 01 Giấy phép lái xe hạng A1, số AH082091, không thời hạn do Sở Giao thông vận tải tỉnh Quảng Nam cấp ngày 15/12/2008, mang tên Hoàng Thị Thanh V.

(Vật chứng hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Điện Bàn (Nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 10 – Đà Nẵng) theo Biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 24/4/2024)

- Lưu theo hồ sơ vụ án 01 đĩa DVD (đã được niêm phong).

- Tiếp tục tạm giữ 01 xe mô tô hiệu Smash, loại FK110D, màu đen BKS 92H2-2744 đứng tên chủ sở hữu Hoàng Mộng S để điều tra, xử lý sau.

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, khoản 1 Điều 23 Ng Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội; buộc bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 23.268.400 (Hai mươi ba triệu hai trăm sáu mươi tám nghìn bốn trăm đồng) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Kiến Ng: Căn cứ Điều 298 Bộ luật Tố tụng hình sự, kiến nghị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng và Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xem xét lại hành vi của bị cáo Hoàng Thị Thanh V là người trực tiếp điều khiển phương tiện xe mô tô biển kiểm soát 92H2-2744 gây tai nạn và xem xét lại tội danh đối với bị cáo V để xử lý theo quy định pháp luật.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (27/9/2025). Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

(Đã giải thích hình phạt cải tạo không giam giữ cho bị cáo).

Cỡ chữ