- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vàng A D - Tàng Trữ vũ khí quân dụng - phạm tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng,…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Vàng A D phạm tội: “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng".
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 304 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG ẢNG TỈNH ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 84/2025/HS-ST Ngày: 24-4-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG ẢNG, TỈNH ĐIỆN BIÊN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông: Lù Văn Hùng
2. Ông: Lò Văn Ngắm
- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Hồng Hạnh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Ông Ngô Hoài Ngân - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 84/2025/TLST-HS, ngày 24 tháng 3 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 84/2025/QĐXXST – HS ngày 11 tháng 4 năm 2025 đối với bị cáo: Họ và tên: Vàng A D; Tên gọi khác: Không; sinh ngày: 06/02/1990 tại huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên; Nơi cư trú: Bản PN, xã BL, huyện MA, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Nông nghiệp; trình độ học vấn: 9/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Mông; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông: Vàng Phái D, sinh năm: 1954 và con bà Phá Thị M, sinh năm: 1956; Gia đình bị cáo có 12 anh, chị, em bị cáo là con thứ 9 trong gia đình; Bị cáo có vợ chị Mùa Thị C, sinh năm: 1990 (đã ly hôn năm 2014); Từ năm 2014 sống chung như vợ chồng với chị Lầu Thị D, sinh năm 1996; Bị cáo có 04 người con, con lớn nhất sinh năm 2010, con nhỏ nhất sinh năm 2021; Tiền án; tiền sự: Không Nhân thân: Chưa bị xử phạt hành chính, chưa bị xét xử. Bị cáo đang bị giam bằng một vụ án khác tại trại tạm giam Công an tỉnh Điện Biên từ ngày 19/11/2024 cho đến ngày xét xử, bị cáo được trích xuất có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa thì hành vi phạm tội của Vàng A D được tóm tắt như sau:
Do muốn tìm mua một khẩu súng để săn bắn sóc và gà rừng nên vào khoảng tháng 3 năm 2023, Vàng A D dùng điện thoại cá nhân tìm kiếm video quảng cáo về loại súng PCP trên mạng xã hội Youtube. Vàng A D thấy một kênh Youtube (Vàng A D không nhớ tên) đăng video quảng cáo về khẩu súng PCP có gắn kèm theo số điện thoại trên đó (Vàng A D không nhớ số điện thoại này). Vàng A D đã gọi vào số điện thoại trên, có giọng nói của người nam giới nghe máy, Vàng A D hỏi cụ thể về thông số của khẩu súng PCP. Sau khi nghe giới thiệu, Vàng A D thấy khẩu súng PCP quá dài, khó cất giấu nên muốn xem mẫu súng ngắn hơn, người nam giới bảo Vàng A D truy cập theo số điện thoại đang liên lạc vào Facebook của người này để xem chi tiết. Vàng A D dùng tài khoản Facebook của Vàng A D có tên tiếng Mông là “ncokoj” nhập số điện thoại của người nam giới trên vào mục tìm kiếm thì thấy hiện ra một tài khoản Facebook (Vàng A D không nhớ tên). Trên nhật ký Facebook của tài khoản này có một video có thời lượng khoảng hơn 10 giây quay lại hình ảnh về khẩu súng ngắn màu đen. Xem xong video, Vàng A D gọi điện lại hỏi giá, người nam giới nói khẩu súng ngắn giá 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng), nếu mua sẽ được gửi kèm thêm 09 viên đạn, Vàng A D đồng ý mua. Người nam giới bảo Vàng A D đọc các thông tin cá nhân để gửi súng và đạn, Vàng A D đã đọc cho người nam giới các thông tin của mình gồm: Họ và tên "Vàng A D", số điện thoại của Vàng A D (Vàng A D không nhớ), địa chỉ “Bản PN, xã BL, huyện MA, tỉnh Điện Biên", người nam giới nói, sau khoảng 07 ngày Vàng A D sẽ nhận được súng và đạn, người giao hàng (Shipper) sẽ mang vũ khí đến tận nhà giao cho Vàng A D. Khoảng 07 ngày sau, Vàng A D đang ở trên lán nương, có một người nam giới gọi điện thoại bảo Vàng A D có đơn hàng trị giá 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng), hẹn Vàng A D xuống đầu bản Pú Nen, xã Búng Lao để nhận. Vàng A D đi bộ xuống, gặp Shipper ở đầu bản Pú Nen, Vàng A D được người này giao cho một bưu kiện, bên ngoài được gói bằng hộp bìa carton màu vàng, trên bưu kiện có ghi các thông tin cá nhân của Vàng A D như họ và tên, số điện thoại và địa chỉ, Vàng A D lấy số tiền 3.000.000 đồng (ba triệu đồng) đưa cho người Shipper và mang gói bưu kiện lên trên lán nương của gia đình ở bản Pú Nen. Vàng A D mở gói bưu kiện ra kiểm tra thấy bên trong có hai túi nilon màu trắng, gồm một túi chứa một khẩu súng ngắn màu đen; một túi chứa 09 viên đạn màu vàng, đầu đạn màu xám. Kiểm tra xong, Vàng A D đốt hộp bìa carton, túi nilon gói súng và đạn, nhặt một chiếc khẩu trang màu trắng ở cạnh lán nương gói 09 viên đạn lại và cho khẩu súng cùng toàn bộ số đạn trên vào trong túi quần bên phải Vàng A D đang mặc trên người mang về nhà cất giấu. Về đến nhà Vàng A D cho khẩu súng và chín viên đạn vào trong một chiếc hộp nhựa màu đen đóng kín lại, cất giấu ở dưới chiếc đệm để ở cạnh giường ngủ của Vàng A D và Lầu Thị Dính, Vàng A D không nói cho Dính biết. Ngày 19/11/2024, Vàng A D bị Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện Mường Ảng bắt quả tang về hành vi Mua bán trái phép chất ma tuý. Cùng ngày Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mường Ảng tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Vàng A D phát hiện, thu giữ 01 khẩu súng ZORAKI M906-TD thuộc công cụ hỗ trợ và 09 viên đạn tự chế, thuộc vũ khí quân dụng, hiện tại còn dùng bắn được cho các loại súng cỡ nòng 9mm.
Tại biên bản niêm phong vật chứng hồi 17 giờ 50 phút ngày 19/11/2024 thì vật chứng thu giữ của Vàng A D là 01 (một) hộp nhựa màu đen dạng hình hộp chữ nhật kích thước (10x18x4) cm, mặt trước hộp có dòng chữ RP6000. Bên trong có chứa 01 (một) khẩu súng ngắn bằng kim loại màu đen chiều dài 17cm, số 000128-1019 CAL9MMPAK, chứa hộp tiếp đạn (không có đạn) nghi là súng quân dụng và 01 (một) khẩu trang màu trắng được buộc thắt nút bằng dây đeo bên trong chứa 09 (chín) viên đạn bằng kim loại màu vàng, đầu đạn màu xám nghi đạn súng ngắn.
Ngày 17/01/2025 An ninh điều tra – Công an tỉnh Điện Biên quyết định khởi tố vụ án hình sự và Quyết định khởi tố bị can đối với Vàng A D về tội "Tàng trữ vũ khí quân dụng" theo khoản 1 Điều 304 Bộ luật hình sự.
Tại bản kết luận giám định số: 1806/KL – KTHS, ngày 05/12/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận:
- Khẩu súng gửi giám định là súng ZORAKI M906-TD cỡ 9mm, bắn đạn cao su, đạn hơi cay..., thuộc công cụ hỗ trợ, hiện tại còn dùng bắn được.
- 09 viên đạn gửi giám định là đạn tự chế (đạn 9x17mm đã bị thay dầu đạn), thuộc vũ khí quân dụng, hiện tại còn dùng bắn được cho các loại súng cỡ nòng 9mm.
Quá trình giám định, giám định viên đã sử dụng khẩu súng và 01 viên đạn gửi giảm định để thực nghiệm.
Hoàn lại các đối tượng gửi giám định gồm:
- 01 (một) khẩu súng ZORAKI M906-TD.
- 08 viên đạn (còn nguyên vẹn).
- 01 (một) vỏ đạn và 01 đầu đạn (thực nghiệm).
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu.
Cáo trạng số: 27/CT-VKSĐB-P1, ngày 24/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên đã truy tố bị cáo Vàng A D về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng" theo khoản 1 Điều 304 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố bị cáo về tội danh, điều luật đã áp dụng như nội dung bản Cáo trạng. Sau khi đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 304; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS xử phạt bị cáo Vàng A D từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 08 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng" . Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a, c khoản 1 Điều 47 của BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của BLTTHS:
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) hộp nhựa màu đen dạng hình hộp chữ nhật kích thước (10x18x4) cm, mặt trước hộp có dòng chữ RP6000; 01 (một) khẩu trang màu trắng.
Tịch thu giao Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Điện Biên tiếp nhận, xử lý theo quy định của pháp luật 08 viên đạn (còn nguyên vẹn); 01 (một) vỏ đạn và 01 đầu đạn (thực nghiệm).
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS và Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH về Quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và có đề nghị miễn án phí đề nghị miễn án phí HSST cho bị cáo.
Lời nói sau cùng, Vàng A D nhận phạm tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng" và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Qua quá trình xét hỏi và tranh luận công khai tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án, đúng như bản Cáo trạng của Viện kiểm sát đã nêu và phù hợp với vật chứng đã thu được của bị cáo cụ thể: Khoảng tháng 3 năm 2023 Vàng A D lên kênh Youtube và Facebook mua 09 viên đạn tự chế, thuộc vũ khí quân dụng của một người nam giới không biết tên và địa chỉ mang về nhà cất giấu, mục đích để săn bắn sóc và gà rừng. Ngày 19/11/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện Mường Ảng khám xét khẩn cấp chỗ ở của Vàng A D về hành vi Mua bán trái phép chất ma tuý, thu giữ 09 viên đạn tự chế thuộc vũ khí quân dụng, hiện tại còn dùng bắn được cho các loại súng cỡ nòng 9mm..
Do vậy, Hội đồng xét xử có đầy đủ căn cứ để kết tội bị cáo Vàng A D phạm tội "Tàng trữ vũ khí quân dụng" theo khoản 1 Điều 304 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên đã truy tố bị cáo về tội danh và Điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thuộc trường hợp nghiêm trọng, xâm phạm đến chế độ quản lý vũ khí quân dụng của Nhà nước được quy định tại khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự có khung hình phạt từ 01 đến 07 năm tù.
[3] Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo sinh ra và lớn lên tại huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên được bố mẹ nuôi ăn học hết lớp 9/12 thì nghỉ học ở nhà lao động sản xuất cùng gia đình. Do thiếu ý thức rèn luyện, tu dưỡng đạo đức nhận thức được hành vi tàng trữ vũ khí quân dụng là nguy hiểm cho xã hội nhưng để đáp ứng cho nhu cầu cá nhân nên đã bất chấp pháp luật, đi vào con đường phạm tội. Tại phiên tòa cũng như trong quá trình điều tra, bị cáo đã thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình nên Hội đồng xét xử cần xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Tuy nhiên, căn cứ vào tính chất hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống, xã hội một thời gian để bị cáo sửa chữa tội lỗi của mình để sau này trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 52 của BLHS.
Theo khoản 5 Điều 304 của BLHS quy định bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm. Song xét điều kiện hoàn cảnh của bị cáo không có khả năng thi hành, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Tại phiên tòa, xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
. Về vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a, c khoản 1 Điều 47 của BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của BLTTHS Hội đồng xét xử thấy rằng:
- 08 viên đạn (còn nguyên vẹn); 01 (một) vỏ đạn và 01 đầu đạn (thực nghiệm) là vũ khí quân dụng cần tịch thu giao cho Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Điện Biên tiếp nhận, xử lý theo quy định của pháp luật.
- 01 (một) hộp nhựa màu đen dạng hình hộp chữ nhật kích thước (10x18x4) cm, mặt trước hộp có dòng chữ RP6000; 01 (một) khẩu trang màu trắng không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với hành vi Tàng trữ trái phép 01 khẩu súng (thuộc công cụ hỗ trợ) của Vàng A D. Ngày 30/12/2024 Công an tỉnh Điện Biên đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Vàng A D bằng hình thức phạt tiền, với số tiền 15.000.000 đồng (Mười năm triệu đồng), nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Đối với người nam giới bán vũ khí; người Shipper giao vũ khí quân dụng cho Vàng A D. Do Vàng A D không biết rõ nhân thân, lai lịch. Quá trình điều tra không có cơ sở để làm rõ đối tượng nên HĐXX không xem xét.
Đối với Lầu Thị Dính không biết và không tham gia cất giấu vũ khí quân dụng cùng Vàng A D nên HĐXX không xem xét.
. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS và Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH về Quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, thuộc hộ nghèo và có đề nghị miễn án phí Hội đồng xét xử miễn án phí HSST cho bị cáo.
. Căn cứ Điều 331, Điều 333 BLTTHS: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
. Trong quá trình điều tra, truy tố thấy rằng: Các hành vi, Quyết định của Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 304 Bộ luật hình sự:
1. Tuyên bố: Bị cáo Vàng A D phạm tội: “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng".
Áp dụng: khoản 1 Điều 304; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt: Vàng A D 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19 tháng 11 năm 2024.
Không áp dụng phạt hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a, c khoản 1 Điều 47 của BLHS; điểm a, c khoản 2 điều 106 của BLTTHS:
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) hộp nhựa màu đen dạng hình hộp chữ nhật kích thước (10x18x4) cm, mặt trước hộp có dòng chữ RP6000; 01 (một) khẩu trang màu trắng (Hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng thuộc Công an tỉnh Điện Biên).
- Tịch thu giao Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Điện Biên tiếp nhận, xử lý theo quy định của pháp luật 08 viên đạn (còn nguyên vẹn); 01 (một) vỏ đạn và 01 đầu đạn (thực nghiệm). (Hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng thuộc Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Điện Biên).
3. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS và Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH về Quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Miễn toàn bộ án phí HSST cho bị cáo Vàng A D.
4. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Căn cứ Điều 331, Điều 333 BLTTHS: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 24/4/2025).
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Điện Biên; - VKSND tỉnh Điện Biên; - Phòng lý lịch tư pháp Công an tỉnh Điện Biên; - VKSND h.Mường Ảng; - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Điện Biên; Trại tạm giam Công an tỉnh Điện Biên; - Chi cục THADS h.Mường Ảng; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ. | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (Đã ký) Nguyễn Thị Vân |