- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Lê Duy P, Đặng Chí L"
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 84/2025/DS-ST Ngày: 25/4/2025 V/v: “Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản”. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Yến Nhi Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Hoàng Oanh 2. Bà Nguyễn Thị Thanh Hương
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Phan Thị Ngọc Diệp – Thư ký Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, Thành phố Cần Thơ.
Trong ngày 25 tháng 4 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 817/2024/TLST-DS ngày 17 tháng 12 năm 2024 về “Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 195/2025/QĐXX-ST ngày 14 tháng 03 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 195 ngày 04/4/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Lê Duy P
sinh năm: 1971 - có mặt
Địa chỉ: Số C đường số H, KDC A, P. A, Q. N, TP ..
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Lê Duy P: Luật sư Võ Thái H – Công ty L1 - Đoàn luật sư thành phố C. – có mặt
Địa chỉ: Số A H, P. A, Q. N, TP ..
- Bị đơn: Ông Đặng Chí L
sinh năm: 1987 - vắng mặt
ĐKTT: A đường T, P. H, Q. N, TP ..
- Người làm chứng: Ông Huỳnh Trung H1 sinh năm: 1987 - có mặt
Địa chỉ: 1 H, P. A, Q. N, TP ..
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Lê Duy P trình bày:
Qua sự giới thiệu của ông Huỳnh Trung H1 nên ông biết ông Đặng Chí L. Sau thời gian quen biết ông L ngõ lời mượn tiền của ông để làm đáo hạn Ngân hàng phục vụ cho nhu cầu công việc của ông L, vì ông L hiện là trưởng phòng kinh doanh của Ngân hàng TMCP Q (V) – C, địa chỉ tại: Một phần tầng trệt của trung tâm mua sắm Nguyễn Kim Cần T, số B, đường C, P. A, Q. N, TP . nên ông đồng ý cho mượn trong thời gian tối đa là 08 ngày với mức lãi do ông L đưa ra là 0.3%/ngày. Ông có yêu cầu ông L viết giấy nhận tiền nhưng ông L nói thời gian vay mượn có 08 ngày trở lại có thông tin chuyển khoản từ ngân hàng và cũng là chỗ quen biết với ông H1 nên ông chấp nhận cho vay mượn mà không ký kết giấy giao nhận tiền.
Ông đã chuyển tiền cho ông L vay mượn tiền 02 lần vào ngày 29/01/2024 đến số tiền lần lượt là 300.000.000 đồng và 200.000.000 đồng. Đến thời hạn 08 ngày ông đã đòi lại nhưng ông L không trả. Ông đã nhiều lần gọi điện, nhắn tin và gặp trực tiếp để đòi nợ nhưng ông L cứ hứa hẹn mãi với nhiều lý do để không trả. Đến ngày 20/05/2024 thì ông L chuyển khoản cho ông số tiền 50.000.000 đồng và nói với ông gửi cho ông tiền lãi tính đến ngày 31/05/2024. Toàn bộ sự việc trên diễn ra đều có nhân chứng là ông Huỳnh Trung H1 biết. Nhận thấy, việc đòi nợ khó khăn và mất quá nhiều thời gian, nên vào ngày 20/06/2024 ông có làm đơn thưa ông L lên Công an P1, Q. N, thành phố Cần Thơ.
Ngày 25/07/2024 tại trụ sở của Công an P1 có mời được ông L lên làm việc. Tại cơ quan Công an ông L thừa nhận số tiền đã nợ ông như đã nêu và có viết giấy xác nhận nợ của ông số tiền 500.000.000 đồng và có hứa trả lãi cho ông dứt điểm vào ngày 25/09/2024, nhưng đến hạn ông L lại viện đủ lý do để không trả nợ cho ông. Việc ông L không trả nợ đã gây cho ông rất nhiều khó khăn, thiệt hại và xét thấy ông L có dấu hiệu của việc lừa đảo chiếm đoạt tài sản vì ông H1 cũng là nạn nhân giống như ông với số tiền là 300.000.000 đồng.
Vì vậy, ông khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
+ Buộc ông Đặng Chí L phải trả cho ông số nợ gốc là 500.000.000 đồng
+ Buộc ông Đặng Chí L phải trả khoản lãi phát sinh từ 01/06/2024 tới 31/10/2024 (5 tháng) theo lãi suất 1.66%/tháng, số tiền là 41.500.000 đồng. Tổng 02 khoản tiền trên là: 541.500.000 đồng. Yêu cầu Tòa án tiếp tục tính lãi cho đến khi Bản án có hiệu lực pháp luật và cho đến khi bị đơn thanh toán xong nợ.
* Tại bản tự khai ngày 24/02/2025 người làm chứng ông Huỳnh Trung H1 trình bày:
Ông và ông Đặng Chí L có mối quan hệ quen biết từ năm 2015 nên khi ông L ngỏ lời mượn tiền của ông để làm đáo hạn Ngân hàng phục vụ cho nhu cầu công việc của ông L nên ông có hỏi ý của ông Lê Duy P, ông P là người anh thân thiết mà ông quen từ năm 2017 nên có việc gì quan trọng ông đều hỏi ý kiến của ông P. Sự việc bắt đầu diễn ra vào ngày 28/01/2024 khi ông L hẹn ông và ông P ra quán ăn 69 trong khu G Cần Thơ để bàn bạc công việc. Sau đó toàn bộ sự viêc diễn ra như lời trình bày của ông P đã trình bày với Tòa án.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, thông báo hợp lệ đối với bị đơn ông Đặng Chí L để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải ngày 24/02/2025 và ngày 14/3/2025 nhưng ông L đều vắng mặt, không lý do.
Mặt khác, đại diện nguyên đơn có yêu cầu không qua thủ tục hòa giải, đề nghị đưa vụ án ra xét xử nên Tòa án không tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải được theo quy định tại Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Do đó, Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa,
Nguyên đơn - ông Lê Duy P trình bày: Vẫn giữ ý kiến và yêu cầu khởi kiện như nội dung đơn khởi kiện. Cụ thể, ông yêu cầu ông L trả cho ông số tiền nợ gốc là 500.000.000 đồng.
+ Buộc ông Đặng Chí L phải trả khoản lãi phát sinh từ 01/06/2024 đến ngày xét xử sơ thẩm, theo lãi suất 1.66%/tháng và tiếp tục tính lãi cho đến khi bị đơn thanh toán xong nợ, mức lãi suất 1.66%/tháng.
Tuy nhiên, ông đồng ý trừ số tiền lãi ông thu vượt mức quy định vào số tiền nợ gốc cho bị đơn.
- Luật sư Võ Thái H trình bày tranh luận: Nhận thấy, bị đơn mượn tiền nguyên đơn đã được thể hiện rõ trong nội dung biên nhận nợ và các chứng cứ nguyên đơn chuyển tiền cho bị đơn, các bên đã thoả thuận lãi, nguyên đơn đã nhận một phần lãi của bị đơn. Tuy nhiên, phần lãi có vượt mức quy định nên thống nhất trừ phần tiền lãi vào nợ gốc. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Bị đơn ông Đặng Chí L vắng mặt tại phiên tòa, không có ý kiến gì thêm.
- Người làm chứng ông Huỳnh Trung H1 trình bày: Ông vẫn giữ ý kiến và trình bày như nội dung bản tự khai nộp cho Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Ông Lê Duy P khởi kiện ông Đặng Chí L về việc yêu cầu ông L trả tiền vay theo Giấy giao nhận tiền nên quan hệ pháp luật tranh chấp được xác định là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Bị đơn cư trú tại quận N nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
2]Về thủ tục tố tụng:
Bị đơn ông Đặng Chí L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia các phiên tòa vào ngày 04/4/2025 và ngày 25/4/2025 nhưng ông đều vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt ông L theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
3] Về nội dung:
- Đối với yêu cầu khởi kiện của ông Lê Duy P về việc yêu cầu ông Đặng Chí L trả tổng số nợ gốc 500.000.000 đồng. Nhận thấy, theo biên nhận nợ ngày 25/7/2024 thể hiện ông Đặng Chí L có nhận của ông Lê Duy P số tiền 500.000.000 đồng. Ông L hứa từ ngày nhận nợ 25/7 đến 25/9/2024 sẽ trả số tiền mượn cho ông P. Theo đó, số tiền nợ trên ông Lê Duy P đã chuyển khoản 02 lần cho ông Đặng Chí L theo 02 ủy nhiệm chi cũng ngày 29/01/2024 theo số tài khoản 0503010012349 của ông Lê Duy P tại Ngân hàng T2 với số tiền 300.000.000 đồng và 200.000.000 đồng vào số tài khoản 07001010526363 tại Ngân hàng TMCP H2 của ông Đặng Chí L. Xét thấy, ông L cam kết đến ngày 25/9/2024 sẽ trả cho ông P nhưng từ khi ông L mượn tiền đến nay ông L chưa trả nợ gốc cho ông P. Ông L đã vi phạm thỏa thuận nghĩa vụ trả nợ nên ông P khởi kiện.
Quá trình giải quyết, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ cho ông L tham gia hòa giải và tham gia các phiên tòa ngày 04/4/2025 và ngày 25/4/2025 nhưng ông vẫn vắng mặt nên Tòa án không có ý kiến gì của ông gửi cho Tòa án. Do đó, Tòa án căn cứ vào chứng cứ có trong hồ sơ giải quyết theo quy định.
Như vậy, ông P khởi kiện yêu cầu ông L trả số tiền nợ gốc tổng số tiền 500.000.000 đồng là có căn cứ chấp nhận.
- Về mức lãi suất và thời gian tính lãi: Ông P yêu cầu ông L trả lãi chậm trả từ 01/06/2024 đến ngày xét xử sơ thẩm (25/4/2025) và lãi phát sinh từ ngày 26/4/2025 cho đến khi ông L trả xong nợ cho ông theo mức lãi suất 1.66%/tháng.
Nhận thấy, ông P không yêu cầu Tòa án giải quyết phần lãi đối với ông L giai đoạn từ ngày 29/01/2024 đến ngày 31/5/2024 là do ngày 20/5/2024 ông L có chuyển khoản trả tổng số tiền lãi cho ông số tiền 50.000.000 đồng theo Giấy báo nợ ngày 20/5/2024 tại Ngân hàng TMCP N.
Xét thấy, theo chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai người làm chứng cho thấy giữa các bên khi thực hiện giao dịch vay mượn tiền với nhau có thỏa thuận lãi suất là 0.3%/ngày. Nhưng ông L đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên ông P yêu cầu tính lãi chậm trả từ ngày 01/06/2024 đến ngày xét xử sơ thẩm (25/4/2025) và lãi phát sinh từ ngày 26/4/2025 cho đến khi ông L trả xong nợ cho ông theo mức lãi suất 1.66%/tháng là phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 357 và khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Nhận thấy, từ ngày 29/01/2024 đến 31/5/2024 ông L đã trả lãi cho ông P tổng số tiền 50.000.000 đồng. Tuy nhiên, mức lãi thời gian trên là 4 tháng 2 ngày x 1.66% x 500.000.000 đồng = 33.637.898 đồng.
Nên mức lãi ông P nhận của ông L vượt mức quy định với số tiền 16.362.102 đồng.
Theo quy định tại Điều 9 của Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn về áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm thì số tiền lãi nguyên đơn đã trả cho bị đơn vượt quá mức lãi suất, lãi trên nợ gốc quá hạn được trừ vào số tiền nợ gốc tại thời điểm trả lãi. Do đó, sau khi trừ số tiền 16.362.102 đồng lãi vượt mức quy định mà nguyên đơn đã nhận vào số tiền nợ gốc 500.000.000 đồng đồng nên bị đơn còn nợ nguyên đơn số tiền gốc là 483.637.898 đồng.
Như vậy, tiền lãi từ ngày 01/06/2024 đến ngày xét xử sơ thẩm (25/4/2025) là 10 tháng 24 ngày tính trên số tiền nợ gốc 483.637.898 đồng.
Cụ thể: 483.637.898 đồng x 1.66% x 10 tháng 24 ngày = 86.706.602 đồng.
Từ những chứng cứ và phân tích trên cho thấy: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ chấp nhận. Buộc ông L có trách nhiệm trả cho ông P tạm tính đến ngày 25/4/2025 tổng số tiền: 570.344.500 đồng (Trong đó: Nợ gốc: 483.637.898 đồng, nợ lãi: 86.706.602 đồng) và lãi phát sinh từ ngày 26/4/2025 cho đến khi ông L trả xong nợ cho ông theo mức lãi suất 1.66%/tháng trên số tiền nợ gốc 483.637.898 đồng).
Do đó, quan điểm của luật sư bảo vệ quyền lợi cho nguyên đơn là có căn cứ chấp nhận.
* Về án phí dân sự sơ thẩm:
+ Bị đơn phải chịu 26.813.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
+ Nguyên đơn được nhận lại 12.830.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0000810 ngày 18/11/2024 tại Chi Cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1] Căn cứ vào:
- Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 97, Điều 147, Điều 207, điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 228 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Điều 357, khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. 2]Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Duy P.
Buộc bị đơn ông Đặng Chí L có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn ông Lê Duy P tổng số tiền tạm tính đến ngày 25/4/2025 tổng số tiền: 570.344.500 đồng (Năm trăm bảy mươi triệu, ba trăm bốn mươi bốn nghìn, năm trăm đồng) [Trong đó: Nợ gốc: 483.637.898 đồng (Bốn trăm tám mươi ba triệu, sáu trăm ba mươi bảy nghìn, tám trăm chín mươi tám đồng), nợ lãi: 86.706.602 đồng (T1 mươi sáu triệu, bảy trăm lẻ sáu nghìn, sáu trăm lẻ hai đồng)] và lãi phát sinh từ ngày 26/4/2025 cho đến khi ông L trả xong nợ cho ông theo mức lãi suất 1.66%/tháng trên số tiền nợ gốc 483.637.898 đồng.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
+ Bị đơn ông Đặng Chí L phải chịu 26.813.000 đồng (Hai mươi sáu triệu, tám trăm mười ba nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
+ Nguyên đơn ông Lê Duy P được nhận lại 12.830.000 đồng (Mười hai triệu, tám trăm ba mười nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0000810 ngày 18/11/2024 tại Chi Cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết) để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ giải quyết theo thủ tục phúc thẩm. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| *Nơi nhận: - Các đương sự; - Tòa án nhân dân TP . Cần Thơ; - Viện kiểm sát nhân dân Q.Ninh Kiều; - Chi cục Thi hành án dân sự Q . Ninh Kiều; - Lưu hồ sơ vụ án. Phạm Thị Yến Nhi | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |