vanban.org

Bản án 84/2024/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Hồng Bàng, TP. Hải Phòng Tuyên án 27/06/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo DQD phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: DQD 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04 tháng 4 năm 2024. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "DQD - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo DQD phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN HỒNG BÀNG
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 84/2024/HSST
Ngày: 27-6-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HỒNG BÀNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Văn Mười

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Minh Toàn

Ông Trần Ngọc Hải

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Đức Trung - Thư ký Toà án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Diệu Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Ủy ban nhân dân phường Trại Chuối, quận Hồng Bàng; Toà án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 87/2024/HSST ngày 05 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:

DQD, sinh ngày 18 tháng 9 năm 1980 tại Hải Phòng; nơi ĐKHKTT: Số 2/27 A, phường B, quận C, thành phố Hải Phòng., nơi cư trú: Số 36/3/10 tổ 9, phường D, quận E, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 8/12; con ông F (đã chết) và bà G, có vợ là H, sinh năm 1982; có 01 con sinh năm 1999; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ ngày 04/4/2024, chuyển tạm giam ngày 08/4/2024; có mặt.

Người chứng kiến: Ông NVT.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do bản thân nghiện ma túy, nên khoảng 11 giờ ngày 04/4/2024, DQD một mình điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 16P6-2696 đến khu vực đường tàu I, quận C, thành phố Hải Phòng tìm mua ma túy để sử dụng cho bản thân. Tại đây, DQD gặp một nam thanh niên không quen biết và hỏi mua 80.000 đồng ma túy Heroine. Sau đó, người nam thanh niên này dẫn DQD đến khu vực chợ ở đường J, phường K, quận L, thành phố Hải Phòng và đưa cho DQD 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu “Thăng Long” màu đỏ, bên trong có 01 gói nilon chứa ma túy Heroine. DQD nhận gói ma túy cất vào túi quần phía trước bên trái đang mặc rồi điều khiển xe mô tô đi tìm chỗ sử dụng ma túy. Khi đi đến khu vực trước nhà số 3 TĐC 9 đường K, phường K, quận L, thành phố Hải Phòng thì bị lực lượng Công an đang làm nhiệm vụ kiểm tra bắt quả tang, thu giữ trong túi quần bò phía trước bên trái của DQD đang mặc 01 bao thuốc lá màu đỏ bên trong có 01 gói nilon, kích thước 1x1cm (nghi ma túy). Tổ công tác đã đưa DQD cùng vật chứng về trụ sở Công an phường Hạ Lý, quận Hồng Bàng lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Xét nghiệm nhanh chất ma túy trong nước tiểu của DQD dương tính với MOP (heroine).

Tại Kết luận giám định số 414/KL-KTHS ngày 08/4/2024 của phòng Kỹ thuật hình sự CATP Hải Phòng kết luận: “Chất bột màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 0,31 gam, loại Heroine”.

Tại Cơ quan điều tra DQD khai nhận hành vi như nội dung trên. Lời khai của bị cáo phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang, Kết luận giám định, lời khai của người chứng kiến, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Vật chứng của vụ án: chuyển Chi cục Thi hành án dân sự quận Hồng Bàng 01 (một) phong bì thư dán kín trong có toàn bộ mẫu giám định còn lại sau giám định có dấu niêm phong số 414MT/PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng; 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu “Thăng Long” màu đỏ.

Đối với xe mô tô biển kiểm soát 16P6-2696 thu giữ trong vụ án, quá trình điều tra xác định chủ sở hữu là chị H, sinh năm 1982; nơi cư trú: Số 2/27 A, phường B, quận C, thành phố Hải Phòng (là vợ của DQD). Việc DQD sử dụng xe mô tô đi mua ma túy chị Hà không biết, nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe trên cho chị Hà.

Tại Bản Cáo trạng số 62/CT-VKSHB ngày 06/6/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng đã truy tố bị cáo DQD về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung trên, lời khai của bị cáo phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang, Kết luận giám định, lời khai của người chứng kiến, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo DQD với mức án từ 21 đến 27 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo do bị cáo không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng.

Về vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bì giấy nguyên niêm phong chứa mẫu vật còn lại và vỏ bao gói sau giám định có dấu niêm phong số 414MT/PC09 của Phòng Kỹ thuật hình sự (PC09) Công an thành phố Hải Phòng; 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu “thăng long” màu đỏ.

Đối với xe mô tô biển kiểm soát 16P6-2696 thu giữ trong vụ án, quá trình điều tra xác định chủ sở hữu là chị H, sinh năm 1982; nơi cư trú: Số 2/27 A, phường B, quận C, thành phố Hải Phòng (là vợ của DQD). Việc DQD sử dụng xe mô tô đi mua ma túy chị H không biết, nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe trên cho chị H nên không xem xét giải quyết.

Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

Về tài liệu, chứng cứ Cơ quan cảnh sát điều tra, Công an quận Hồng Bàng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, Kiểm sát viên thu thập; bị cáo cung cấp đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về những chứng cứ, tài liệu đã thu thập, cung cấp. Do đó, những chứng cứ, tài liệu trong vụ án đều hợp pháp.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hồng Bàng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng như đã nêu trên. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Về việc vắng mặt của người làm chứng:

Người chứng kiến ông NVT đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Bị cáo và đại diện Viện kiểm sát không đề nghị hoãn phiên tòa về sự vắng mặt của người chứng kiến. Xét thấy người chứng kiến đã có lời khai tại giai đoạn điều tra và việc vắng mặt của họ tại phiên tòa không gây trở ngại cho việc xét xử. Do đó, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt người chứng kiến theo Điều 296 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Về tội danh của vụ án:

Tại phiên tòa, bị cáo DQD đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung trên, lời khai của bị cáo phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang, Kết luận giám định, lời khai của người chứng kiến, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 11 giờ ngày 04/4/2024, tại khu vực trước nhà số 3 TĐC 9 đường K, phường K, quận L, thành phố Hải Phòng; Đặng Quang Đinh có hành vi cất giấu trái phép 0,31 gam ma túy, loại Heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân, bị Cơ quan Công an bắt quả tang. Tại thời điểm thực hiện hành vi (ngày 04/4/2024), bị cáo là người trên 18 tuổi, có đầy đủ năng lực hành vi trách nhiệm hình sự; bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Như vậy hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng là có cơ sở và đúng quy định của pháp luật.

- Đánh giá về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma tuý, xâm phạm trật tự trị an xã hội, làm phát sinh, gia tăng nhiều loại tội phạm hình sự khác.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, tình tiết giảm nhẹ, trên cơ sở đề nghị của Kiểm sát viên và kết quả xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa; sau khi xem xét các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, bắt bị cáo phải chấp hành tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định mới có đủ điều kiện giáo dục bị cáo và phát huy tác dụng răn đe, đáp ứng yêu cầu phòng ngừa chung.

- Về hình phạt bổ sung:

Căn cứ tài liệu có trong hồ sơ và xét hỏi tại phiên tòa cho thấy bị cáo không có tài sản, không nghề nghiệp ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

- Về xử lý vật chứng:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bì giấy nguyên niêm phong chứa mẫu vật còn lại và vỏ bao gói sau giám định có dấu niêm phong số 414MT/PC09 của Phòng Kỹ thuật hình sự (PC09) Công an thành phố Hải Phòng; 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu “thăng long” màu đỏ.

- Đối với xe mô tô biển kiểm soát 16P6-2696 thu giữ trong vụ án, quá trình điều tra xác định chủ sở hữu là chị H, sinh năm 1982; nơi cư trú: Số 2/27 A, phường B, quận C, thành phố Hải Phòng (là vợ của DQD). Việc DQD sử dụng xe mô tô đi mua ma túy chị H không biết, nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe trên cho chị H, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

- Về án phí:

Bị cáo DQD phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo đối với bản án:

Bị cáo DQD được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Trong vụ án này:

Đối với nam thanh niên bán ma túy cho DQD tại khu vực chợ đường J, phường K, quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng, quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân lai lịch. Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo DQD phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Xử phạt: DQD 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04 tháng 4 năm 2024.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bì giấy nguyên niêm phong chứa mẫu vật còn lại và vỏ bao gói sau giám định có dấu niêm phong số 414MT/PC09 của Phòng Kỹ thuật hình sự (PC09) Công an thành phố Hải Phòng; 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu “thăng long” màu đỏ. (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 5/6/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng).

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo DQD phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo DQD được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ