- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lường Văn P - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH SƠN LA Bản án số: 84/2024/HS-ST Ngày: 07-3-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lường Văn Quyết.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Quàng Văn Tiện.
2. Bà Lường Thị Khuyển.
- Thư ký phiên toà: Bà Hà Thị Phương Linh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sông Mã.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã tham gia phiên tòa: Ông Sộng Nỏ Ly – Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 3 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 84/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 02 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 92/2024/QĐXXST-HS ngày 23/02/2024, đối với bị cáo:
Lường Văn P, tên gọi khác: Không, sinh năm 1994; nơi cư trú: Bản L, xã C, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ giáo dục phổ thông: 10/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không; con ông: Lường Văn T và con bà: Lường Thị B; vợ: Vì Thị T, có 01 người con sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Tại quyết định số 017161 ngày 09/7/2012 của Công an huyện Sông Mã xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 375.000 đồng, về hành vi gây rối trật tự công cộng.
Bị bắt tạm giữ, giam ngày 26/12/2023 cho đến nay. Có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 07 giờ 30 Pt ngày 26/12/2023, tổ công tác Công an xã C, huyện Sông Mã đến nhà của Lường Văn P, sinh năm 1994 trú tại Bản L, xã C, huyện Sông Mã để test thử ma tuý đối với P. Tổ công tác đến thì thấy P đang ở nhà, qua làm việc đã vận động P tự đem giao nộp các tài liệu, đồ vật liên quan đến hành vi phạm tội thì P đã lấy một gói nilon màu trắng ra giao nộp, bên trong chứa chất bột liên kết màu trắng (P khai nhận là Heroine). Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Lường Văn P, thu giữ và niêm phong vật chứng.
Cùng ngày, tại Cơ quan CSĐT Công an huyện Sông Mã, Hội đồng bóc mở niêm phong đã tiến hành bóc mở niêm phong, cân tịnh, xác định khối lượng và trích mẫu giám định, kết quả: Số bột màu trắng có khối lượng là 0,28 gam đã trích 0,14 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu P, vật chứng còn lại là 0,14 gam ký hiệu L.
Tại bản kết luận giám định số 163/KL ngày 28/12/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận: Mẫu ký hiệu P gửi giám định là ma tuý, loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,14 gam. Tổng khối lượng ma tuý thu giữ là 0,28 gam; loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất.
Quá trình điều tra xác định được như sau:
Khoảng 12 giờ 00 Pt ngày 23/12/2023, P đem theo số tiền 300.000 đồng rồi một mình đi bộ ra ngoài đường bắt xe buýt từ Bản L, xã C đến bản K, xã H, huyện Sông Mã để tìm mua ma tuý về sử dụng. Khi đến khu vực bản Khua Họ, P xuống xe khách rồi đi bộ vào trong bản, trên đường đi P gặp một người đàn ông dân tộc Mông không rõ danh tính, P hỏi và mua được một cục Heroine được gói bằng mảnh nilon màu trắng với số tiền 200.000 đồng. Mua được ma tuý, P đem về nhà, khi đến nhà P đã trích ra một ít Heroine để sử dụng bằng hình thức hít qua đường hô hấp, sau đó P dùng mảnh nilon ban đầu gói lại để sử dụng dần. Đến 07 giờ 30 Pt khi P đang ở nhà thì tổ công tác Công an xã C, huyện Sông Mã đến test thử ma tuý và vận động nên P đã lấy gói ma tuý mua được ra để giao nộp cho tổ công tác. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong vật chứng như đã nêu trên.
Cáo trạng số: 29/CT-VKSSM ngày 05 tháng 02 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã, truy tố Lường Văn P về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà:
- Bị cáo khai báo thành khẩn, nhận tội, thừa nhận toàn bộ hành vi là vi phạm pháp luật, Toà án xét xử là không oan sai.
- Kiểm sát viên sau khi trình bày luận tội, vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Phạt bị cáo từ 01 năm 08 tháng đến 02 năm tù. Bị cáo không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung (là phạt tiền); bị cáo không thuộc trường hợp được miễn án phí nên phải chịu án phí; vật chứng xử lý theo quy định của pháp luật. Bị cáo có quyền kháng cáo.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Sau khi được nói lời sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra công an huyện Sông Mã, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện huyện Sông Mã, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về chứng cứ xác định tội danh:
- Hồi 07 giờ 30 Pt ngày 26/12/2023, tổ công tác Công an xã Chiềng Sơ, Sông Mã đến nhà Lường Văn P ở Bản L, xã C, Sông Mã để test thử ma tuý đối với P. Khi tổ công tác đến nhà gặp P và yêu cầu P giao nộp những đồ vật tài liệu có liên quan đến ma tuý thì P tự lấy 01 gói nilon màu trắng ra giao nộp, bên trong có chứa chất bột liên kết màu trắng, có khối lượng 0,28 gam, theo kết luận giám định là ma tuý, thuộc loại Heroine. Mục đích Tàng trữ để sử dụng cá nhân.
- Tại phiên toà, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội; lời khai nhận hoàn toàn thống nhất với lời khai tại cơ quan Điều tra, phù hợp với biên bản phạm tội quả tang và lời khai của người chứng kiến; lời khai nhận của bị cáo cũng phù hợp với nội dung, tội danh của bản Cáo trạng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Quá trình xét hỏi, tranh luận không phát sinh tình tiết mới. Như vậy, Hội đồng xét xử có cơ sở kết luận: Bị cáo Lường Văn P phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma tuý", tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do đó, khởi tố của cơ quan Điều tra và truy tố tội phạm của Viện kiểm sát đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm sự quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy. Hành vi của bị cáo gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây bức xúc trong nhân dân.
Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi gây rối trật tự công cộng.
- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo có 01 tình tiết giảm nhẹ là (người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải) quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo; căn cứ vào khối lượng ma tuý và nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cần có mức hình phạt tương xứng và cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và để phòng ngừa chung, đồng thời có thời gian cho bị cáo cai bỏ ma tuý.
Về vấn đề khác liên quan trong vụ án: Đối với người đàn ông không rõ danh tính theo bị cáo khai đã bán ma túy cho bị cáo tại khu vực Bản Khua Họ, xã Huổi Một, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La. Do bị cáo không biết tên, địa chỉ cụ thể của người này nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra, mở rộng vụ án là có căn cứ, cần chấp nhận.
Vật chứng của vụ án còn lại: 0,14 gam Heroine và các đồ vật liên quan là vật cấm lưu hành và vật không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu huỷ.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản, gia đình có hoàn cảnh khó khăn, nên không áp dụng hình phạt bổ sung (là phạt tiền).
Về án phí: Bị cáo không thuộc trường hợp được miễn, nên phải chịu án phí theo quy định chung.
Về quan điểm của Kiểm sát viên như: Nội dung, tội danh và các vấn đề khác đối với bị cáo đều phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Lường Văn P phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Xử phạt: Lường Văn P 01 năm 08 tháng tù (một năm tám tháng). Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/12/2023.
2. Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu huỷ các đồ vật: 0,14 gam Heroine đựng trong 01 túi Nilon màu trắng, 01 mảnh Nilon màu trắng và 01 phong bì thư niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở; toàn bộ được đựng trong 01 (một) phong bì thư do Bưu điện Việt Nam phát hành, đã niêm phong kín.
(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 35 ngày 05/02/2024 của Viện kiểm sát huyện Sông Mã và biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/02/2024 giữa Chi cục thi hành án dân sự và Công an huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La).
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, các Điều 21, 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án ngày 07/3/2024.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sơn La; - Sở Tư pháp tỉnh Sơn La; - VKSND huyện; - THA hình sự; - CCTHA Dân sự; - Bị cáo; - Lưu: Hồ sơ, án văn. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lường Văn Quyết |