vanban.org

Bản án 84/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho bà Trần Kiều D ly hôn ông Châu Văn Nh.

Về quyền nuôi con chung: Giao Châu Hoàng P1, sinh ngày 29/12/2007 cho bà Trần Kiều D tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Châu Văn Nh không cấp dưỡng nuôi con. Ông Châu Văn Nh có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho bà Trần Kiều D ly hôn ông Châu Văn Nh.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ TÂN
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 84/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 12-6-2024
V/v xin ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Văn Thị Vẹn

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Kim Huệ

Bà Trần Thị Hoài Yên

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Bảo Trân là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên tòa: Bà Võ Thúy Nhị - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 6 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 24/2024/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 02 năm 2024 về việc xin ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 164/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trần Kiều D, sinh năm 1985 (xin vắng mặt).

Địa chỉ cư trú: Ấp X, xã P, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Ông Châu Văn Nh, sinh năm 1971 (vắng mặt).

Địa chỉ cư trú: Ấp R, xã Ph, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 16/02/2024 và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, bà Trần Kiều D trình bày: Ngày 09/4/2007 bà và ông Châu Văn Nh kết hôn và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau. Quá trình chung sống xảy ra mâu thuẫn, thường xuyên cự cải, ông Nh thường đánh bà, bà và ông Nh đã sống ly thân từ năm 2011 đến nay. Xét thấy cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt, mâu thuẫn đã trầm trọng không thể tiếp tục cuộc sống hôn nhân nên bà yêu cầu ly hôn ông Châu Văn Nh. Bà và ông Châu Văn Nh có 01 người con chung là Châu Hoàng P1, sinh ngày 29/12/2007, hiện do bà đang trực tiếp nuôi dưỡng, nay bà yêu cầu tiếp tục nuôi con, không yêu cầu ông Châu Văn Nh cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung tự thỏa thuận và nợ chung không có, không yêu cầu giải quyết.

Ông Châu Văn Nh được triệu tập hợp lệ tham gia tố tụng nhiều lần nhưng vắng mặt không lý do, không cung cấp lời khai, chứng cứ cho Tòa án.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân:

Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký tòa án, người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận cho bà Trần Kiều D ly hôn ông Châu Văn Nh. Về con chung, giao người con tên là Châu Hoàng P1, sinh ngày 29/12/2007 cho bà Trần Kiều D tiếp tục nuôi dưỡng, ông Châu Văn Nh không cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung và nợ chung không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Bà Trần Kiều D khởi kiện ông Châu Văn Nh yêu cầu ly hôn, yêu cầu giải quyết về con chung nên đây là vụ án hôn nhân và gia đình, quan hệ tranh chấp về “xin ly hôn”, bị đơn ông Châu Văn Nh cư trú tại ấp R, xã Ph, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Bà Trần Kiều D xin vắng mặt, ông Châu Văn Nh được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do, do đó Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự trên là đúng theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Về hôn nhân, bà Trần Kiều D và ông Châu Văn Nh kết hôn năm 2007 và có đăng ký kết hôn theo quy định nên quan hệ hôn nhân giữa bà Trần Kiều D và ông Châu Văn Nh được pháp luật công nhận là hôn nhân hợp pháp. Bà Trần Kiều D xác định vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, thường hay cự cải, ông Nh thường đánh đập bà, ông Châu Văn Nh không có ý kiến đối với yêu cầu ly hôn của bà Trần Kiều D. Xét thấy, bà Trần Kiều D và ông Châu Văn Nh đã không còn chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2011 đến nay mà không thể hòa giải, hàn gắn, ông Châu Văn Nh cũng không tham gia tố tụng để hòa giải và hàn gắn với bà Trần Kiều D. Từ đó cho thấy quan hệ hôn nhân giữa bà Trần Kiều D và ông Châu Văn Nh đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, chấp nhận cho bà Trần Kiều D ly hôn ông Châu Văn Nh là có căn cứ theo quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

[4] Về con chung, bà Trần Kiều D xác định có một người con chung là Châu Hoàng P1, sinh ngày 29/12/2007 hiện đang sống với bà Trần Kiều D và yêu cầu giao con chung cho bà tiếp tục nuôi dưỡng. Xét thấy, các con hiện đang sống với bà Trần Kiều D, vì vậy để ổn định tâm lý, môi trường sống và học tập của con chung nên giữ nguyên hiện trạng, giao con là Châu Hoàng P1 cho bà Trần Kiều D tiếp tục nuôi dưỡng là có căn cứ. Bà Trần Kiều D không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét, giải quyết.

[5] Bà Trần Kiều D và ông Châu Văn Nh không yêu cầu giải quyết về tài sản chung và nợ chung nên không đặt ra xem xét.

[6] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân là phù hợp nên có căn cứ chấp nhận.

[7] Về án phí: Bà Trần Kiều D phải chịu án phí hôn nhân và gia đình theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án, bà Trần Kiều D đã nộp tạm ứng xong nay chuyển thu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Áp dụng điều 56, 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình;

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho bà Trần Kiều D ly hôn ông Châu Văn Nh.

2. Về quyền nuôi con chung: Giao Châu Hoàng P1, sinh ngày 29/12/2007 cho bà Trần Kiều D tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Châu Văn Nh không cấp dưỡng nuôi con.

Ông Châu Văn Nh có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Bà Trần Kiều D chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng, theo biên lai thu tiền số 0003215 ngày 16 tháng 02 năm 2024, của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau, như vậy bà Trần Kiều D không còn phải nộp thêm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ