- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Thị Mỹ Hoài - Đinh Văn Tuý"
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY NAM TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 84/2024/HNGĐ-ST Ngày 01/7/2024 V/v: “Ly hôn, tranh chấp con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY NAM - TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Thuở
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Văn Nam
2. Ông Võ Hoàng Hiếu
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thiên Trang - Thư ký Tòa án.
Đại diện Việm kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Nam tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Lanh – Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 103/2024/TLST- HNGĐ ngày 18 tháng 3 năm 2024 về việc "Ly hôn, tranh chấp con chung" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 236/2024/QĐXXST
- HNGĐ ngày 30 tháng 5 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 260/2024/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Trần Thị Mỹ H, sinh năm 2001
Địa chỉ: ấp Tân An, xã Tân A, huyện Tân H, tỉnh Kiên G.
Nơi ở hiện nay: 26, đường số 7, phường An L, quận B, thành phố H
Bị đơn: Anh Đinh Văn T, sinh năm 1981
Địa chỉ: ấp Phú Đông T, xã B, huyện M, tỉnh B.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn chị Trần Thị Mỹ H trình bày:
Chị và anh Đinh Văn T kết hôn năm 2022 trên tinh thần tự nguyện, đăng ký kết hôn ngày 25 tháng 7 năm 2022 tại Ủy ban nhân dân xã Tân Trung, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre. Quá trình chung sống hạnh phúc đến tháng 3 năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng thường hay cự cãi nhau, luôn bất đồng quan điểm. Anh chị đã ly thân từ tháng 3 năm 2023 đến nay. Chị nhận thấy cuộc sống gia đình mâu thuẫn trầm trọng đến mức không thể hàn gắn nên chị quyết định xin ly hôn với anh T. Chị và anh T có 01 con chung tên Đinh Trần Nhã Đ, sinh ngày 18 tháng 8 năm 2022, đang sống với chị, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu cấp dưỡng. Tài sản chung và nợ chung không có.
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn anh Đinh Văn Túy vắng mặt nên không có lời trình bày.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa xét xử đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục được pháp luật quy định. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Bị đơn vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án là chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Mỹ H đối với anh Đinh Văn T. Chị H được ly hôn với anh T; giao con chung là Đinh Trần Nhã Đ, sinh ngày 18/8/2022 cho chị H nuôi, ghi nhận việc chị H không yêu cầu anh T cấp dưỡng; tài sản chung và nợ chung không có nên không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Chị Trần Thị Mỹ H khởi kiện yêu cầu ly hôn, yêu cầu nuôi con với anh Đinh Văn T nên quan hệ pháp luật là "Ly hôn, tranh chấp con chung" theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Bị đơn anh Đinh Văn T có nơi cư trú tại ấp Phú Đông Thượng, xã Bình Khánh, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre nên Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam có thẩm quyền giải quyết theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Bị đơn anh Đinh Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Vì vậy, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt Túy theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[4] Chị Trần Thị Mỹ Ho và anh Đinh Văn T tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn vào ngày 25/7/2022 tại Ủy ban nhân dân xã Tân Trung, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre theo đúng quy định của pháp luật nên hôn nhân của anh chị là hôn nhân hợp pháp được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Theo lời trình bày của chị H thì quá trình chung sống chị và anh T không có hạnh phúc, thường xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, vợ chồng ly thân từ tháng 3 năm 2023 cho đến nay, vì không còn tình cảm với anh T nên chị yêu cầu xin ly hôn. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập anh T để hòa giải nhưng anh đều vắng mặt và không có ý kiến gì đối với yêu cầu ly hôn của chị H, do đó có cơ sở xác định anh T không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng với chị H, mâu thuẫn vợ chồng của anh chị đã thật sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt. Vì vậy, có căn cứ chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H đối với anh T.
[5] Chị Trần Thị Mỹ H và anh Đinh Văn T có 01 con chung tên Đinh Trần Nhã Đ, sinh ngày 18/8/2022, đang sống với chị H. Sau khi ly hôn chị H có yêu cầu tiếp tục nuôi cháu Nhã Đ, không yêu cầu anh T cấp dưỡng. Xét thấy, cháu Nhã Đ đang được chị H nuôi dưỡng tốt, cháu Nhã Đ hiện đang dưới 36 tháng tuổi nên giao cháu cho chị H tiếp tục nuôi là phù hợp. Ghi nhận việc chị H không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Anh T được quyền thăm con không ai được ngăn cản anh thực hiện quyền này.
[6] Về tài sản chung và nợ chung: Chị Trần Thị Mỹ H khai không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
[7] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng chị Trần Thị Mỹ H phải nộp theo quy định của pháp luật. Anh Đinh Văn T không phải nộp án phí.
[8] Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ;
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Mỹ H đối với anh Đinh Văn T, cụ thể như sau:
- Về hôn nhân: Chị Trần Thị Mỹ H được ly hôn với anh Đinh Văn T.
- Về con chung: Giao cháu Đinh Trần Nhã Đ, sinh ngày 18/8/2022 cho chị Trần Thị Mỹ H trực tiếp nuôi. Ghi nhận chị Trần Thị Mỹ H không có yêu cầu anh Đinh Văn T cấp dưỡng nuôi con.
Anh Đinh Văn T được quyền thăm con chung, không ai được quyền ngăn cản. Vì lợi ích của con chung sau này, một hoặc hai bên đương sự được quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng.
- Về tài sản chung và nợ chung: Chị Trần Thị Mỹ H khai không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
2. Án phí hôn nhân sơ thẩm:
Chị Trần Thị Mỹ H phải nộp số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0003942 ngày 18 tháng 3 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre (chị H đã nộp đủ án phí).
3. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Mỏ Cày Nam (1b); - TAND tỉnh Bến Tre (1b); - CCTHADS huyện Mỏ Cày Nam (1b); - UBND xã Tân Trung (1b); - Các đương sự (2b); - Lưu hồ sơ, VP (3b). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Nguyễn Thanh Thuở |