- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nghiêm Thị T1 và đp phạm tội Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nghiêm Thị T1 phạm tội “Đánh bạc”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| toµ ¸n nh©n d©n THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ tØnh phó thä | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 84/2023/HSST Ngày 12 tháng 7 năm 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ - TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Hồng Vân
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Hùng Tuấn
Ông Nguyễn Huy Trụ
- Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Minh Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Huyền - Kiểm sát viên.
Trong ngày 12/7/2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ mở phiên tòa để xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 79/2023/TLST-HS ngày 26 tháng 5 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 84/2023/QĐXXST-HS ngày 06/6/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 23/2023/QĐST-HS ngày 20/6/2023 đối với bị cáo:
Họ tên: Nghiêm Thị T1; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 17/9/1964; Giới tính: Nữ; Hộ khẩu thường trú: Đội 4, xã V, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ; Q1 tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 10/10; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Bố đẻ: Nghiêm Xuân Hiếu (Đã chết); Mẹ đẻ: Nguyễn Thị L1 - sinh năm 1922; Mẹ hiện ở: Huyện Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái; Chồng: Tạ Hữu C1 - sinh năm: 1960; Con: Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 1987, con nhỏ sinh năm 1989. Chồng, con hiện ở: Xã V, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ; Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 12/12/2010, Nghiêm Thị T1 bị Công an thành phố Việt Trì xử phạt vi phạm hành chính về hành vi ”Đánh bạc”, hình thức phạt tiền, số tiền phạt là 1.000.000đ, T1 đã nộp phạt vào ngày 26/12/2010.
Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 24/02/2023 đến ngày 02/3/2023 huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn tạm giữ, khởi tố bị can và ra lệnh “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Hiện bị cáo đang tại ngoại tại xã V, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Phan Minh Q1, sinh năm 1984 (Hôm nay, vắng mặt)
Địa chỉ: tổ 1, phố G, phường C, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.
2. Anh Nguyễn Chí L2, sinh năm 1992 (Hôm nay, vắng mặt)
Địa chỉ: khu 3, xã Hùng Lô, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.
3. Anh Lê Quang C3, sinh năm 1992.
Địa chỉ: khu 2, xã Kim Đức, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.
Hôm nay, vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 17 giờ 30 phút ngày 24/02/2023, tại tổ 18 phố Minh H 1, phường C, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội - Công an thành phố Việt Trì bắt quả tang Nghiêm Thị T1, sinh ngày 17/9/1964, hộ khẩu thường trú: Đội 4, xã V, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ đang có hành vi bán số lô, số đề cho Phan Minh Q1, sinh năm 1984, hộ khẩu thường trú: phố G, phường C, Việt Trì, Phú Thọ; Nguyễn Chí L2, sinh năm 1992, hộ khẩu thường trú: khu 3, xã Hùng Lô, Việt Trì, Phú Thọ và Lê Quang C3, sinh năm 1992, hộ khẩu thường trú: khu 2, xã Kim Đức, Việt Trì, Phú Thọ.
Vật chứng thu giữ gồm: Thu giữ của T1 04 mảnh giấy ghi các số lô, số đề vừa bán cho Q1, L2, C3; 12 mảnh giấy trắng; 01 bàn nhựa, 01 ghế nhựa đã cũ; 01 chiếc kéo, 01 tờ giấy than; Tiền Việt Nam: 5.470.000 đồng là tiền T1 bán số lô, số đề cho Q1, L2, C3. Thu giữ của Q1 02 mảnh giấy, của L2 01 mảnh giấy, của C3 01 mảnh giấy là các mảnh giấy ghi số lô, đề mà Q1, L2, C3 mua của T1.
Tại Cơ quan điều tra, Nghiêm Thị T1, Phan Minh Q1, Nguyễn Chí L2 và Lê Quang C3 khai nhận như sau:
Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 24/02/2023, khi T1 đang ngồi bán vé số tại vỉa hè đường đại lộ Hùng Vương thuộc tổ 18A, khu Minh H 1, phường C, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ thì lần lượt có Phan Minh Q1, Nguyễn Chí L2 và Lê Quang C3 đến hỏi mua số lô, số đề. Phan Minh Q1 mua các số lô xiên 2: 49-53 mua 3 điểm với giá 30.000 đồng, 75-42 mua 2 điểm với giá 20.000 đồng; số đề gồm các số: 53, 58, 07, 10, 65, 67, 55 mỗi số 10.000 đồng. Tổng 70.000 đồng, T1 trích cho Q1 14.000 đồng tiền “hoa hồng”, Q1 sử dụng số tiền này để mua thêm vào 07 số đề trên mỗi số 2.000 đồng. Tổng số tiền Q1 mua số lô, số đề của T1 là 134.000 đồng, số tiền thực tế Q1 trả cho T1 là 120.000 đồng. Sau đó, T1 tiếp tục bán cho Nguyễn Chí L2 03 số đề gồm 04, 40, 88 mỗi số 100.000 đồng, tổng 300.000 đồng và các số đầu 8 gồm 10 số 80 đến 89 mỗi số 100.000 đồng, tổng 1.000.000 đồng; 03 số lô gồm 04, 40, 88, mỗi số 50 điểm, giá 23.000đồng/điểm, tổng 3.450.000 đồng, T1 trích cho L2 130.000 đồng tiền “hoa hồng”, L2 sử dụng số tiền này mua thêm vào 13 số đề trên mỗi số 10.000 đồng. Tổng số tiền L2 mua số lô, số đề của T1 là 4.880.000 đồng, số tiền thực tế L2 trả cho T1 là 4.750.000 đồng. Tiếp theo, T1 bán cho Lê Quang C3 03 số đề là 16, 61, 66 mỗi số 200.000 đồng, tổng 600.000 đồng, T1 trích cho C3 60.000 đồng tiền “hoa hồng”, C3 sử dụng số tiền này để mua thêm vào 03 số đề trên mỗi số 20.000 đồng. Tổng số tiền C3 mua số đề của T1 là 660.000 đồng, số tiền thực tế C3 trả cho T1 là 600.000 đồng. Sau khi bán số lô, số đề cho các đối tượng thì T1 đều viết các số lô, số đề đã bán vào một mảnh cáp lô, đồng thời T1 sao chép các số trên qua một mảnh giấy than vào một mảnh giấy khác đưa cho Q1, L2, C3 giữ để so sánh kết quả. Ngay sau khi T1 nhận tiền của C3 thì bị tổ công tác của Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội - Công an thành phố Việt Trì phát hiện, bắt quả tang như đã nêu trên.
Hình thức đánh bạc và tỉ lệ thắng thua được T1 và các đối tượng thỏa thuận, thống nhất như sau: Số lô, số đề là số tự nhiên gồm hai chữ số; số đề được so sánh với hai số cuối của giải đặc biệt và số lô được so sánh với hai số cuối tất cả các giải thưởng kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc mở thưởng vào 18 giờ 15 phút cùng ngày. Nếu số đề của người mua trùng với hai số cuối của giải đặc biệt thì người chơi sẽ thắng và T1 sẽ phải trả cho người đó số tiền tương ứng gấp 70 lần số tiền mà khách đã mua số đề (Cứ 1.000 đồng thì được trả 70.000 đồng). Nếu số lô người mua trùng với hai số cuối của một trong các giải thì người đó sẽ thắng, cứ 1 điểm lô giá 23.000 đồng T1 phải trả cho khách thắng 80.000 đồng. Nếu số lô xiên 2 trùng với 02 số cuối của một trong các giải của một trong các giải thì sẽ thắng, mỗi một điểm lô xiên 2 giá 10.000đ T1 phải trả cho khách thắng số tiền gấp 10 lần số tiền khách đã mua số lô xiên hai. Số lô, số đề bán cho Q1, L2 và C3 nêu trên T1 giữ lại không chuyển cho ai khác. Nếu người mua không thắng thì T1 sẽ được hưởng số tiền mà khách đã mua số đề, số lô nói trên. T1 và các đối tượng thỏa thuận sẽ thanh toán tiền với nhau vào ngày hôm sau, khi đã so sánh kết quả và biết thắng thua.
Hành vi đánh bạc của Nghiêm Thị T1 dưới hình thức bán số lô, số đề cho Q1, L2 và C3 bị phát hiện, bắt giữ, ngăn chặn trước khi có kết quả xổ số miền Bắc mở thưởng cùng ngày, do vậy T1 phải chịu trách nhiệm hình sự với tổng số tiền đánh bạc là 5.674.000 đồng.
Tại Cơ quan điều tra, Nghiêm Thị T1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Ngày 03/4/2023, T1 đã tự nguyện giao nộp số tiền 204.000đ là tiền “hoa hồng” T1 cho thêm Q1, L2 và C3. Sau đó, Q1, L2, C3 dùng để mua tiếp các số lô, số đề.
Tại bản Cáo trạng số 74/CT-VKS-VT ngày 23/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì đã truy tố bị cáo Nghiêm Thị T1 về tội “ Đánh bạc”, theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa,
Bị cáo Nghiêm Thị T1 thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo đánh bạc với hình thức bán số lô, số đề để lấy tiền chi tiêu cá nhân.
Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nghiêm Thị T1 phạm tội “Đánh bạc”.
- Về hình phạt chính:
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 đề nghị xử phạt bị cáo:
Nghiêm Thị T1 từ 30.000.000 (Ba mươi triệu đồng) đến 35.000.000 (Ba mươi lăm triệu đồng) sung quỹ Nhà nước.
- Về hình phạt bổ sung: Không phạt bổ sung đối với bị cáo do đã áp dụng hình phạt chính là phạt tiền.
- Về vật chứng và án phí đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.
Trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án, bị cáo nói lời sau cùng: bị cáo ăn năn, hối hận về hành vi phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về tố tụng:
Hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an thành phố Việt Trì, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng đã được tống đạt cho bị cáo, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đúng thời hạn do pháp luật quy định. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Về nội dung:
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong giai đoạn điều tra, truy tố; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận:
Hồi 17 giờ 30 phút ngày 24/02/2023, tại tổ 18A, khu Minh H 1, phường C, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, Nghiêm Thị T1 đã thực hiện hành vi đánh bạc trái phép được thua bằng tiền dưới hình thức bán số lô, số đề cho: Phan Minh Q1 với số tiền 134.000 đồng, Nguyễn Chí L2 với số tiền 4.880.000 đồng, Lê Quang C3 với số tiền 660.000 đồng. Do vậy, Nghiêm Thị T1 phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi đánh bạc với tổng số tiền đánh bạc là 5.674.000 đồng.
Như vậy, hành vi của bị cáo Nghiêm Thị T1 phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015, là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và có khung hình phạt cao nhất từ 06 tháng đến 03 năm tù.
Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo có 01 nhân thân ngày 12/12/2010, Nghiêm Thị T1 bị Công an thành phố Việt Trì xử phạt vi phạm hành chính về hành vi ”Đánh bạc”, hình thức phạt tiền, số tiền phạt là 1.000.000đ, T1 đã nộp phạt vào ngày 26/12/2010.
Về các tình tiết giảm nhẹ: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 BLHS.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về hình phạt:
- Về hình phạt chính: Hành vi của bị cáo nêu trên là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng do nhà nước quản lý, gây mất trật tự trị an trên địa bàn, cần được xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, nên xét thấy không cần thiết phải cách ly khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần cho bị cáo cải tạo ngoài xã hội và áp dụng hình phạt tiền với hành vi của bị cáo, cũng đủ để cải tạo, răn đe bị cáo sửa chữa lỗi lầm của bản thân mà rèn luyện trở thành người tốt và cũng là thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.
- Về hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra thể hiện bị cáo đang sinh sống cùng gia đình, ngoài tài sản C3 của gia đình bị cáo không có tài sản riêng gì. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo khẳng định hiện nay bị cáo có việc làm và thu nhập ổn định từ 4.000.000đ đến 5.000.000đ/1 tháng. Do áp dụng hình phạt chính là phạt tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01(một) chiếc kéo; 01(một) tờ giấy than, 12 (mười hai) tờ giấy trắng; 01 (một) bàn nhựa; 01 (một) ghế nhựa đã cũ không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
- Số tiền dùng vào việc đánh bạc của Nghiêm Thị T1 là 5.674.000 đồng (Năm triệu, sáu trăm bẩy mươi tư nghìn đồng), là tiền thu lời bất chính cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước. Do quá trình điều tra bị cáo đã nộp số tiền này và hiện nay được chuyển theo biên lai thu tiền số AA/2022/0000089 ngày 26/5/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, cần xác nhận.
6] Về những vấn đề khác:
Đối với Phan Minh Q1, Nguyễn Chí L2 và Lê Quang C3 là người đã thực hiện hành vi đánh bạc dưới hình thức mua số lô, số đề của Nghiêm Thị T1, nhưng chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự, Cơ quan điều tra đã chuyển hồ sơ để xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức là phạt tiền. Xét thấy là phù hợp.
Về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì tại phiên tòa là phù hợp, cần được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1, Điều 321; điểm s, i khoản 1 Điều 51; Điều 35; điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm a, b khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q1 Hội; Điều 331, 333, 337 của Bộ luật tố tụng Hình sự.
1. Tuyên bố bị cáo Nghiêm Thị T1 phạm tội “Đánh bạc”.
Xử phạt bị cáo Nghiêm Thị T1 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng) sung quỹ Nhà nước.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy: 01(một) chiếc kéo; 01(một) tờ giấy than, 12 (mười hai) tờ giấy trắng; 01 (một) bàn nhựa; 01 (một) ghế nhựa đã cũ.
(Số vật chứng trên theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 26/5/2023 tại Chi cục thi hành án Dân sự thành phố Việt Trì).
- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 5.674.000 đồng (Năm triệu, sáu trăm bẩy mươi tư nghìn đồng).
(Số tiền trên theo biên lai thu tiền số AA/2022/0000089 ngày 26/5/2023 tại Chi cục thi hành án Dân sự thành phố Việt Trì).
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nghiêm Thị T1 phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án bị cáo có mặt có quyền kháng cáo để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Phú Thọ - VKSND Tp. Việt Trì, tỉnh Phú Thọ; - Công an TP. Việt Trì, tỉnh Phú Thọ; - THA HS, DS TP. Việt Trì, tỉnh Phú Thọ; - Sở Tư pháp tỉnh Phú Thọ; - Những người tham gia tố tụng; - UBND xã V, TP. Việt Trì; - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Phạm Hồng Vân |