vanban.org

Bản án 84/2023/HSST — Hình sự

TAND TP. Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 14/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bị cáo Lê Hồng P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Xử phạt: Lê Hồng P 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/12/2022. Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật Hình sự. + Tịch thu tiêu hủy: - 01 bì niêm phong ký hiệu P (bên trong chứa vỏ bao gói mẫu gửi giám định) mặt sau có các dấu tròn đỏ của phòng K1 -… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Hồng Phú - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Bị cáo Lê Hồng P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 84/2023/HSST
Ngày 14/4/2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN

- Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Duy Chinh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Lành.

2. Ông Lê Văn Ninh.

- Thư ký phiên toà: Bà Phan Thị Quyên, thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bình Nguyên - Kiểm sát viên.

Ngày 14/4/2023, tại Hội trường UBND phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 75/2023/HSST ngày 17/3/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 70/2023/QĐXXST-HS ngày 31/3/2023 đối với bị cáo: Họ và tên: Lê Hồng P; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 09 tháng 10 năm 1987 tại: Thái Nguyên; Nơi cư trú: Tổ D, phường C, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Chức vụ (Đảng, chính quyền, đoàn thể) trước khi phạm tội: Không; Con ông: Lê Sỹ T, sinh năm 1951; Con bà: Dương Thị V, sinh năm 1957; Gia đình có 05 anh em, bị cáo là con thứ năm; Vợ: Ngân Thị T1, sinh năm 1993; Có 02 con, lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2014; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Tại Bản án số 254/2017/HSST ngày 14/7/2017 của Tòa án nhân dân TP Thái Nguyên xử phạt Lê Hồng P 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. (Đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 01/02/2019; chấp hành xong khoản án phí ngày 07/02/2018)

Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T (bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/12/2022 đến nay). (Có mặt)

Ngƣời chứng kiến: Ông Dương Văn K, sinh năm 1959, trú tại tổ H, phường H, thành phố T. ( Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 15 giờ 45 phút, ngày 19/12/2022, Công an phường H, thành phố T làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát tại khu vực tổ B của phường thì phát hiện 01 người đàn ông đang đi bộ có biểu hiện liên quan đến ma túy. Tổ công tác yêu cầu kiểm tra, người đàn ông khai nhận tên là Lê Hồng P và đang cất giấu ma túy trên người. P tự giác lấy từ túi áo khoác bên phải P đang mặc 01 gói giấy bạc màu trắng bên trong có chứa chất bột màu trắng giao nộp cho tổ công tác. P khai số chất bột màu trắng trên là ma túy Heroine của P. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ số chất bột màu trắng của P theo quy định. Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T tiến hành mở niêm phong , cân xác định khối lượng : Số chất bột màu trắng thu giữ của Lê Hồng P có khối lượng 0,152 gam. Niêm phong ký hiệu P gửi giám định chất ma túy (BL: 29).

Tại bản kết luận giám định số 59/KL-KTHS ngày 27/12/2022 của Phòng K1 Công an tỉnh T kết luận: Chất bột màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu P gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, có khối lượng thu giữ ban đầu là 0,152 gam (BL: 28).

Tại Cơ quan điều tra, Lê Hồng P khai nhận: Vào khoảng 14 giờ 45 phút ngày 19/12/2022, P đi bộ từ nhà đến khu vực ngã tư bách hóa thuộc tổ B, phường H, thành phố T mục đích để tìm mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Tại đó, P gặp và mua của một người đàn ông không biết tên tuổi địa chỉ 01 gói ma túy Heroine được gói bằng giấy bạc màu trắng với giá 200.000 đồng. Sau đó P cất gói ma túy trên vào túi áo khoác bên phải P đang mặc rồi đi tìm nơi để sử dụng ma túy thì bị Công an phường H phát hiện, bắt quả tang và thu giữ vật chứng như đã nêu trên.

Lời khai nhận của Lê Hồng P phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định, lời khai của người chứng kiến và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Vật chứng của vụ án là : - 01 bì niêm phong ký hiệu P, bên trong chứa mẫu vật và vỏ bao mẫu hoàn lại sau giám định; - 01 bì niêm phong ký hiệu L, bên trong chứa vỏ bao mẫu vật niêm phong ban đầu.

Hiện số vật chứng trên đang được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên.

Bản cáo trạng số 81/CT-VKSNDTPTN ngày 16/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố Lê Hồng Phú về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, trong phần luận tội đối với bị cáo, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên giữ nguyên quan điểm truy tố. Sau khi phân tích, đánh giá các chứng cứ đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Lê Hồng P phạm tội Tàng trữ trái phép ma túy. Đề nghị: Áp dụng điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Đề xuất xử phạt Lê Hồng P mức án từ 18 đến 21 tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo và xử lý vật chứng theo quy định.

Bị cáo phải chịu án phí và được quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Trong phần tranh luận: Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì.

Bị cáo nói lời sau cùng: Xin hội đồng xét xử giảm nhẹ cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

1] .Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo và người chứng kiến không có ý kiến hoặc kiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

.Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã mô tả, bị cáo xác định Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố là đúng người, đúng tội. Xét thấy lời nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa là tự nguyện, khách quan, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định, lời khai của người chứng kiến.. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 15 giờ 20 phút, ngày 19/12/2022, tại tổ B, phường H, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. Lê Hồng P có hành vi tàng trữ 0,152 gam Heroine với mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác Công an phường H phát hiện, bắt quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng.

Đánh giá của Hội đồng xét xử: Bị cáo là người đủ năng lực hành vi trách nhiệm dân sự và biết ma túy là vật cấm và được Nhà nước quản lý nhưng vẫn cố tình tàng trữ trái phép ma túy là 0,152 gam Heroine để sử dụng cho bản thân. Do vậy hành vi của bị cáo đã đủ căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát thành phố T truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Nội dung điều luật nhƣ sau:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

...

c, H, ... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam; ”

Do vậy bị cáo phải chịu hình phạt mà điều luật đã quy định.

Xét tính chất mức độ của vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý, sử dụng chất gây nghiện, gây mất trật tự trị an ở địa phương và là một trong các nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội khác..

Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo là người có nhân thân xấu đã từng bị Tòa án xét xử bằng bản án đã có hiệu lực pháp luật vào năm 2017 về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Bị cáo đã chấp hành xong toàn bộ phần hình phạt và án phí, nhưng không lấy đó làm bài học cho bản thân để trở thành công dân có ích cho xã hội, lại nghiện ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Từ những nội dung nêu trên Hội đồng xét xử thấy cần xử phạt bị cáo mức án từ 18 đến 21 tháng tù như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa hôm nay là phù hợp.

Vật chứng của vụ án: + Cần tịch thu tiêu hủy: - 01 bì niêm phong ký hiệu P, bên trong chứa mẫu vật và vỏ bao mẫu hoàn lại sau giám định; - 01 bì niêm phong ký hiệu L, bên trong chứa vỏ bao mẫu vật niêm phong ban đầu.

Về các vấn đề khác: Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ, Lê Hồng P khai đã mua của một người đàn ông không rõ lai lịch, địa chỉ tại khu vực phường H, thành phố T nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T không có cơ sở điều tra làm rõ để xử lý.

Về hình phạt bổ sung và án phí:

- Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính lẽ ra Hội đồng xét xử phạt bổ sung bị cáo. Tuy nhiên bị cáo là người nghiện ma túy, công ăn việc làm không ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo;

- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án.

Bởi các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố:

1. Bị cáo Lê Hồng P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Căn cứ vào điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật Hình sự; điểm s, khoản 1, Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự.

2. Xử phạt: Lê Hồng P 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/12/2022.

Căn cứ Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật Hình sự. + Tịch thu tiêu hủy: - 01 bì niêm phong ký hiệu P (bên trong chứa vỏ bao gói mẫu gửi giám định) mặt sau có các dấu tròn đỏ của phòng K1 - Công an tỉnh T và chữ ký của Nguyễn Minh T2; - 01 bì niêm phong ký hiệu L (bên trong chứa vỏ bao mẫu vật niêm phong ban đầu) mặt sau có các dấu tròn đỏ của cơ quan CSĐT - Công an thành phố T và chữ ký của các thành phần tham gia.

Hiện được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên theo tình trạng biên bản giao nhận vật chứng số 306 ngày 13/4/2023.

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Lê Hồng P phải nộp 200.000đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách nhà nước.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ