- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH O, TP. HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 84/2023/HSST Ngày 13/10/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH O- TP HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Dũng
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Nguyệt và ông Lưu Bá Ngọc
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Anh Bích - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh O.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thanh O, Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiều Diễm, Kiểm sát viên;
Ngày 13 tháng 10 năm 2023, tại: Phòng xét xử trực tuyến Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 79/2023/HSST ngày 03 tháng 10 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sô: 80/2023/HSST- QĐTA ngày 03 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn T (Tên gọi khác:Không; Giới tính: Nam), sinh năm 1984; ĐKNKTT nơi ở: Thôn B 2, xã Cao V, huyện Thanh O, TP Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 7/12; Dân tộc: Kinh; Bố đẻ: Nguyễn Văn N (đã chết); mẹ đẻ: Đoàn Thị D; Chưa có vợ, con. Gia đình có 03 anh, chị em, bị cáo là con thứ hai; Danh chỉ bản 288/2023, lập ngày 10/8/2023 tại Công an huyện Thanh O, Thành phố Hà Nội.
Tiền án, tiền sự: Không
Nhân thân: - Ngày 22/4/2014 bị Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, TP Hà Nội xử phạt 32 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, chấp hành xong hình phạt tù ngày 04/02/2016 (đã được xóa án tích).
- Ngày 08/10/2018 bị Công an huyện Chương Mỹ, TP Hà Nội xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản, mức phạt 1.500.000 đồng, đã nộp tiền phạt ngày 29/10/2018.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/8/2023, hiện đang tạm giam tại Trại Tạm giam số 2 - Công an thành phố Hà Nội. Bị cáo có mặt tại điểm cầu trực tuyến trại tạm giam số 01 - Công an Thành phố Hà nội, theo lệnh trích xuất của tòa án.
- Người làm chứng:
1/Anh Lã Văn Đ, sinh năm 1995
Trú tại: thôn My D, xã Thanh M, huyện Thanh O, TP Hà Nội
(Anh Đ vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án như sau:
Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên khoảng 09 giờ ngày 03/8/2023, Nguyễn Văn T sinh năm 1984, trú tại: Thôn B 2, xã Cao V, huyện Thanh O, TP Hà Nội đi bộ từ nhà đến xã Thanh M tìm mua ma túy để sử dụng. Tại khu vực đường mương thuộc địa phận thôn My D, xã Thanh M; T mua được 01 gói ma túy với giá 200.000 đồng một người đàn ông khoảng 45 tuổi (T không biết họ tên, địa chỉ cụ thể của người này). Sau khi mua được ma túy, T cất giấu vào trong túi áo bên trái và đi bộ về tìm chỗ để sử dụng. Khi đi được khoảng 500 mét thì T bị lực lượng công an xã Thanh M bắt quả tang và thu giữ tang vật.
Về tang vật thu giữ:
- 01 gói giấy bạc màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng.
Cùng ngày, công an xã Thanh M đã bàn giao đối tượng Nguyễn Văn T và hồ sơ vụ án cho công an huyện Thanh O giải quyết theo quy định pháp luật.
Tại Bản kết luận giám định số 5350A/KL-KTHS ngày 12/8/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận:
Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy bạc màu trắng là ma túy loại Heroine, khối lượng 0,143 gam.
Quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Văn T đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của bản thân phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập hiện có trong hồ sơ vụ án.
Tại bản Cáo trạng số: 81/CT-VKS ngày 02 tháng 10 năm 2023, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thanh O, TP Hà Nội truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên toà giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Văn T như nội dung Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng điểm c khoản 1 điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Nguyễn Văn T 15 (mười lăm) đến 18 (mười tám) tháng tù; đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: đề nghị tịch thu tiêu hủy chất ma túy hoàn lại sau giám định.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo tại phiên tòa và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
{1} Về tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thấy rằng: Các Quyết định của cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, kiểm sát viên, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, nên trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo khai không bị oan, không có ý kiến khiếu nại về các hành vi, quyết định của cơ quan T hành tố tụng và người T hành tố tụng đã thực hiện đúng pháp luật.
{2} Về nội dung: Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn T đã thừa nhận do có nhu cầu sử dụng ma túy nên ngày 03/8/2023, T tìm mua được 0,143 gam ma túy loại heroine của một người đàn ông không quen biết ở thôn My D, xã Thanh M, huyện Thanh O, TP Hà Nội. Trên đường đi về tìm chỗ để sử dụng ma túy thì Nguyễn Văn T bị lực lượng công an xã Thanh M bắt quả tang và thu giữ tang vật.
Đối chiếu với các quy định của pháp luật hình sự, hành vi của Nguyễn Văn T đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
{3} Xét tính chất: Đây là vụ án nghiêm trọng, có tính nguy hiểm cho xã hội bởi hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm vào chế độ quản lý, sử dụng các chất gây nghiện do Nhà nước độc quyền quản lý. Tội phạm còn là nguyên nhân phát sinh thêm nhiều tệ nạn trong xã hội, trực tiếp hủy hoại đến sức khoẻ bản thân người sử dụng và làm thiệt hại đến kinh tế gia đình và xã hội, còn là nguyên nhân lây truyền nhiều loại bệnh xã hội. Bản thân bị cáo có nhân thân xấu, vì vậy phải có hình phạt tù nghiêm khắc cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên khi lượng hình cũng cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo ở chỗ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt để cho bị cáo sớm được trở về với gia đình vào xã hội.
- Về nguồn gốc ma túy, Nguyễn Văn T khai mua của một người đàn ông khoảng 45 tuổi (T không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể) tại khu vực thôn My D, xã Thanh M, huyện Thanh O, TP Hà Nội. Cơ quan điều tra đã T hành điều tra nhưng không xác định được nhân thân, lai lịch của người này nên không có căn cứ để xử lý.
- Về vật chứng của vụ án: Cần tịch thu tiêu hủy chất ma túy hoàn lại sau giám định được niêm trong 01 (một) phong bì thư của Phòng PC09- Công an TP Hà Nội có chữ ký của Nguyễn Văn T, đồng chí Phạm Quốc Minh và giám định viên tại các mép dán;
- Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên!
QUYẾT ĐỊNH;
1. Tuyên bố bị cáo: Nguyễn Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
2. Áp dụng: Điểm c khoản 1 điều 249; Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Nguyễn Văn T 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 03/8/2023;
3. Về vật chứng của vụ án: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy chất ma túy hoàn lại sau giám định được niêm trong 01 (một) phong bì thư của Phòng PC09- Công an TP Hà Nội có chữ ký của Nguyễn Văn T, đồng chí Phạm Quốc Minh và giám định viên tại các mép dán. Theo như biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 10/10/2023 giữa Chi cục thi hành án và cơ quan CSĐT - Công an huyện Thanh O, TP Hà Nội.
4. Về án phí: Căn cứ nghị quyết số: 326/2016 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu: 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án ngày 13/10/2023.
| Nơi nhận: - TAND TP. Hà Nội; -VKSND Tp Hà Nội - Sở Tư pháp TP Hà Nội - VKS ND huyện Thanh O; - Chi cục THADS huyện Thanh O; - UBND xã Cao V; - Bị cáo; - Lưu Hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ NGUYỄN T DŨNG |