- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
- Căn cứ chính? Điều 143 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃVĨNH CHÂU TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 84/2023/HNGĐ ST Ngày 22/8/2023 V/v Ly hôn. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Vũ Phương.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Thái Trung Nghĩa.
Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Anh Đô, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Diệp - Kiểm sát viên.
Trong ngày 22 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 114/2023/TLST - HNGĐ ngày 09 tháng 5 năm 2023 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 68E/2023/QĐXXST- HNGĐ ngày 25 tháng 7 năm 2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 19R (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt);
Địa chỉ: Số nhà A, khóm X, Phường X, thị xã Vĩnh C, tỉnh Sóc Trăng.
2. Bị đơn: Ông Trần Thanh C, sinh năm 19Y (vắng mặt);
Địa chỉ: Số nhà A, khóm X, Phường X, thị xã Vĩnh C, tỉnh Sóc Trăng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 12/4/2023 nguyên đơn bà Nguyễn Thị N trình bày:
Năm 2016, bà Nguyễn Thị N và ông Trần Thanh C kết hôn và được Ủy ban nhân dân Phường X, thị xã Vĩnh C, tỉnh Sóc Trăng cấp Giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 24/8/2016. Trong thời gian sống chung với nhau có 03 đứa con chung tên: Trần Tiến Đ (giới tính: Nam), sinh ngày 06/01/20T; Trần Tiến D (giới tính: Nam), sinh ngày 01/01/20T và Trần Nguyễn Thanh K (giới tính: Nữ), sinh ngày 23/01/20R. Mặc dù thời gian đầu vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc, nhưng sau đó do bất đồng quan điểm trong cuộc sống và thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Xét thấy, tình cảm vợ chồng không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không thể tiếp tục tồn tại và hiện nay vợ chồng không còn sống chung với nhau.
Nay nhận thấy hạnh phúc gia đình tan vỡ, không thể hàn gắn được, mục đích hôn nhân không thành nên bà Nguyễn Thị N có yêu cầu giải quyết như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị N yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với ông Trần Thanh C.
- Về con chung: Bà Nguyễn Thị N xin được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng các con tên Trần Tiến D (giới tính: Nam), sinh ngày 01/01/20T và Trần Nguyễn Thanh K (giới tính: Nữ), sinh ngày 23/01/20R. Bà Nguyễn Thị N không yêu cầu ông Trần Thanh C phải cấp dưỡng nuôi con.
Đối với con tên Trần Tiến Đ (giới tính: Nam), sinh ngày 06/01/20T đã thành niên, không yêu cầu giải quyết về quyền nuôi con.
- Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị N trình bày tự thỏa thuận phân chia, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
- Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị N trình bày tự thỏa thuận phân chia, nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Đối với bị đơn ông Trần Thanh C:
Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã tiến hành thông báo thụ lý vụ án; thông báo mở phiên họp để kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định của pháp luật và triệu tập hợp lệ đối với bị đơn ông Trần Thanh C để tham gia phiên tòa nhưng ông Trần Thanh C vẫn cố tình vắng mặt. Tòa án đã tiến hành mở phiên họp để kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ theo quy định tại khoản 1, khoản 2 và khoản 3 Điều 210 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Tại phiên tòa, vị Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu phát biểu ý kiến:
Về pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký chấp hành đúng quy định pháp luật. Tại phiên tòa, nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, đề nghịHội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn theo quy định của pháp luật. Đối với bị đơn ông Trần Thanh C đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn ông Trần Thanh C theo quy định của pháp luật.
Về pháp luật nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử:
+ Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị N được ly hôn với ông Trần Thanh C.
+ Về con chung: Giao các cháu tên Trần Tiến D (giới tính: Nam), sinh ngày 01/01/20T và Trần Nguyễn Thanh K (giới tính: Nữ), sinh ngày 23/01/20R cho bà Nguyễn Thị N tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cho đến đủ 18 tuổi.
Đối với cháu Trần Tiến Đ (giới tính: Nam), sinh ngày 06/01/20T đã thành niên, không yêu cầu giải quyết về quyền nuôi con nên không xem xét giải quyết.
+ Về cấp dưỡng: Bà Nguyễn Thị N không yêu cầu, nên không xem xét giải quyết.
+ Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị N trình bày tự thỏa thuận phân chia, không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
+ Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị N trình bày tự thỏa thuận phân chia, không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về pháp luật tố tụng:
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị N khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: “Ly hôn” là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Tòa án thụ lý giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện của nguyên đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 5 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Đối với bị đơn ông Trần Thanh C đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn ông Trần Thanh C theo quy định của pháp luật.
Đối với nguyên đơn bà Nguyễn Thị N có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn bà Nguyễn Thị N theo quy định của pháp luật.
Về pháp luật nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị N và ông Trần Thanh C được xác lập vào năm 2016 và có đăng ký kết hôn đúng theo quy định tại Điều 8 và Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Xét thấy quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị N và ông Trần Thanh C là hợp pháp. Nguyên nhân dẫn đến ly hôn là do trong thời gian sống chung với nhau bà Nguyễn Thị N và ông Trần Thanh C thường xuyên xảy ra mâu thuẫn và hiện nay vợ chồng không còn sống chung với nhau. Bà Nguyễn Thị N kiên quyết yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với ông Trần Thanh C. Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị N và ông Trần Thanh C lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể tiếp tục kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ vào các Điều 51, 53, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà Nguyễn Thị N được ly hôn với ông Trần Thanh C.
Về con chung: Đối với các cháu Trần Tiến D (giới tính: Nam), sinh ngày 01/01/20T; Trần Nguyễn Thanh K (giới tính: Nữ), sinh ngày 23/01/20R hiện nay do bà Nguyễn Thị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Xét thấy, bà Nguyễn Thị N có đủ điều kiện để chăm sóc, giáo dục các con trong môi trường lành mạnh, đảm bảo sự phát triển của con tốt về thể chất cũng như tinh thần. Đồng thời cũng phù hợp với nguyện vọng của các cháu Dũng và Kim. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 giao các cháu Trần Tiến D (giới tính: Nam), sinh ngày 01/01/20T và Trần Nguyễn Thanh K (giới tính: Nữ), sinh ngày 23/01/20R cho bà Nguyễn Thị N tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cho đến đủ 18 tuổi. Riêng đối với cháu Trần Tiến Đ, (giới tính: Nam), sinh ngày 06/01/20T đã thành niên, không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
. Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Nguyễn Thị N không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị N trình bày tự thỏa thuận phân chia, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị N trình bày tự thỏa thuận phân chia, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị N phải chịu theo quy định của pháp luật.
Đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 và khoản 2 Điều 143; khoản 3 Điều 144; khoản 1 Điều 146; khoản 4 Điều 147; điểm a, b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 và khoản 3 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Các Điều 51, 53, 56, 57, 58; 81; 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị N được ly hôn với bị đơn ông Trần Thanh C.
2. Về con chung: Giao các cháu Trần Tiến D (giới tính: Nam), sinh ngày 01/01/20T, Trần Nguyễn Thanh K (giới tính: Nữ), sinh ngày 23/01/20R cho bà Nguyễn Thị N tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cho đến đủ 18 tuổi.
Đối với cháu Trần Tiến Đ (giới tính: Nam), sinh ngày 06/01/20T đã thành niên, không yêu cầu giải quyết về quyền nuôi con nên không xem xét giải quyết.
3. Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Nguyễn Thị N không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Trong thời gian bà Nguyễn Thị N nuôi con, không ai có quyền ngăn cản sự thăm nom, chăm sóc, giáo dục của cha, mẹ đối với con chung.
4. Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị N trình bày tự thỏa thuận phân chia, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
5. Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị N trình bày tự thỏa thuận phân chia, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
6. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị N phải chịu là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu số: 0007960 ngày 05/5/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Vĩnh Châu. Bà Nguyễn Thị N đã thực hiện xong nghĩa vụ nộp tiền án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
7. Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo đối với Bản án trong thời hạn 15 ngày, tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 của Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014)”.
| Nơi nhận: - VKSND TX Vĩnh Châu; - THADS TX Vĩnh Châu; - Phòng KTNV&THA TAND tỉnh Sóc Trăng; - UBND Phường X, thị xã Vĩnh C; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. . | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Vũ Phƣơng |