vanban.org

Bản án 84/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đ-L ly hôn, TC nuôi con"
  • Tòa quyết gì? 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BIÊN HÒA
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 84/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 14/4/2023
V/v: “Ly hôn, tranh chấp về
nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HOÀ, TỈNH ĐỒNG NAI.

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Tám

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Lành

Ông Trần Văn Chánh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung, Thư ký Tòa án nhân dân

thành phố Biên Hoà.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hoà tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thuý Duyên- Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 4 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hoà

xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 2690/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 10 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 57/2023/QĐST-HNGĐ ngày 02 tháng 3 năm 2023; Quyết định hoãn phiên toà số 104/2023/QĐST-HNGĐ ngày 23 tháng 3 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Ngọc Đ, sinh năm 1989

Nơi đăng ký HKTT: TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

Địa chỉ liên lạc: TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

Bị đơn: Anh Vòng Thanh L, sinh năm 1984

Địa chỉ: 49/14, KP.2, P. Tân Phong, TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

(Chị Đ có đơn xin vắng mặt, anh L vắng mặt không lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 12 tháng 9 năm 2022 và các lời khai trong quá

trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ngọc Đ trình bày:

Về quan hệ nhôn nhân: Chị và anh Vòng Thanh L kết hôn vào năm 2005 trên

cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 22/4/2008 tại Ủy ban nhân dân phường Tân Phong, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Quá trình vợ chồng chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp, anh L đã nhiều lần ngoại tình với người phụ nữ khác. Nhiều lần, anh chị cho nhau cơ hội để vợ chồng đoàn tụ nhưng không có kết quả. Nay xét thấy mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng không thể hàn gắn được, mục đích hôn nhân không đạt, chị xin ly hôn với anh Vòng Thanh L

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Vòng Thụy Lam P, sinh ngày

05/8/2009. Ly hôn, chị Đ đề nghị giao con chung cho chị trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi con trưởng thành và có khả năng lao động.

Về cấp dưỡng: Tại Đơn khởi kiện và bản tự khai ngày 03/10/2022, chị Đ yêu

cầu anh L cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 5.000.000đ (năm triệu đồng).Tại Bản tự khai ngày 27/12/2022 và tại phiên họp ngày 24/02/2023, chị Đ thay đổi yêu cầu khởi kiện, không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con vì: bản thân chị bán hàng ăn tại nhà và bán mỹ phẩm online, với thu nhập hiện nay mỗi tháng khoảng 10.000.000 đồng, chị có đủ khả năng nuôi con mà không cần anh L cấp dưỡng.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Vòng Thanh L đã được Tòa án tống

đạt hợp lệ Thông báo thụ lý, Giấy triệu tập đương sự, Thông báo về việc tham gia tố tụng và cung cấp tài liệu chứng cứ; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nhận, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử nhưng anh L không đến Tòa án làm việc nên không có lời trình bày.

Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện

đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn chị

Nguyễn Thị Ngọc Đ vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai, có đơn đề nghị vắng mặt nên nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh Vòng Thanh L đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý, giấy triệu tập tham gia các buổi làm việc, công khai chứng cứ, hòa giải và phiên tòa xét xử vụ án nhưng vắng mặt không có lý do nên bị đơn không thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu

khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên

tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị Ngọc Đ xin ly hôn anh Vòng Thanh L, anh

L là bị đơn có hộ khẩu thường trú và cư trú tại: 49/14, KP.2, P. Tân Phong, TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.

Chị Đ có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Anh L đã được Tòa án triệu tập hợp

lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật.

Về việc giải quyết vụ án:

2.1. Về quan hệ hôn nhân: chị Đ và anh L tự nguyện chung sống với nhau,

được Uỷ ban nhân dân phường Tân Phong, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai cấp chứng nhận đăng ký kết hôn số 104/2008 vào ngày 22/4/2008 nên được xem là hôn nhân hợp pháp theo Điều 9, 11 Luật hôn nhân gia đình năm 2000. Nay chị Đ xin ly hôn, Tòa án căn cứ Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 để giải quyết

2.2. Về yêu cầu xin ly hôn của chị Đ: Chị Đ khai, quá trình vợ chồng chung

sống phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp, anh L đã nhiều lần ngoại tình với người phụ nữ khác, dắt người phụ nữ khác về chọc tức chị. Nhiều lần, anh chị cho nhau cơ hội để vợ chồng đoàn tụ nhưng không có kết quả. Nay xét thấy mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng không thể hàn gắn được, mục đích hôn nhân không đạt, chị xin ly hôn với anh L.

Biên bản xác minh ngày 06/02/2023 tại Ủy ban nhân dân phường Tân Phong,

thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai thể hiện: Chị Đ và anh L là vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường Tân Phong, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai vào năm 2008. Trong quá trình chung sống, giữa chị Đ và anh L có xảy ra mâu thuẫn hay không thì địa phương không biết vì các đương sự không báo với chính quyền địa phương và không có đơn đề nghị địa phương hoà giải. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý và các văn bản tố tụng khác cho anh L nhưng anh L đã không đến Tòa án làm việc, không thực hiện nghĩa vụ của bị đơn, cũng như không có ý kiến gì, từ đó cho thấy anh L có ý bỏ mặc việc Tòa án giải quyết quan hệ hôn nhân giữa hai người.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy, tình trạng mâu thuẫn của

vợ chồng chị Đ và anh L hiện đã rất trầm trọng, vợ chồng hiện đã ly thân và không còn quan tâm, tôn trọng nhau, mục đích hôn nhân không đạt, không có khả năng hàn gắn, nếu tiếp tục kéo dài tình trạng hôn nhân cũng không đem đến hạnh phúc cho nhau. Căn cứ Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Đ, cho chị Đ được ly hôn với anh L để cả hai sớm ổn định cuộc sống.

2.3. Về con chung: Chị Đ và anh L có 01 con chung là Vòng Thụy Lam P,

sinh ngày 05/8/2009. Ly hôn, chị Đ đề nghị giao con chung cho chị trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi con trưởng thành và có khả năng lao động, không yêu cầu anh L cấp dưỡng. Trong quá trình giải quyết vụ án, anh L đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, biết được yêu cầu của chị Đ về việc nuôi con nhưng không đến Toà án làm việc và không có ý kiến phản đối.

Tại Bản tự khai ngày 03/11/2022, con chung của anh chị là cháu Vòng Thụy

Lam P khai, nếu ba mẹ ly hôn thì con có nguyện vọng được ở với mẹ.

Xét thấy, chị Đ có chỗ ở ổn định tại 1505 đường Nguyễn Ái Quốc, KP.5, P.

Tân Tiến, TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai và mức thu nhập một tháng khoảng 10 triệu đồng, đủ điều kiện để nuôi con. Chị Đ yêu cầu được trực tiếp nuôi con, anh L không có ý kiến phản đối yêu cầu của chị Đ, các đương sự không có thoả thuận khác về việc nuôi con, nên căn cứ Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, giao cháu Phương cho chị Đ trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục là phù hợp với nguyện vọng của con chung và phù hợp với quy định pháp luật.

Về cấp dưỡng nuôi con: Do chị Đ không có yêu cầu nên tạm thời anh L

không cấp dưỡng nuôi con chung.

Sau khi ly hôn, chị Đ, anh L có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi

dưỡng, giáo dục con chung. Anh L (không trực tiếp nuôi con) có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở. Vì quyền lợi của trẻ, khi cần thiết các bên được quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.

2.4. Về Tài sản chung, nợ chung:

Về tài sản chung: Chị Đ khai không có và các đương sự không yêu cầu Toà

án giải quyết nên không xem xét.

Về nợ chung: Chị Đ khai vợ chồng không có nợ chung, các đương sự không

yêu cầu nên không xem xét.

2.5. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Ngọc Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo

quy định.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hoà phù hợp với

nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 238; Điều 271; Điều

273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 9, 11 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000; các Điều 51,

56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban

thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ngọc Đ với

bị đơn anh Vòng Thanh L về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Ngọc Đ, sinh năm 1989 được ly

hôn anh Vòng Thanh L, sinh năm 1984.

2. Về con chung: Giao con chung là cháu Vòng Thụy Lam P, sinh ngày

05/8/2009 cho chị Nguyễn Thị Ngọc Đ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi con chung trưởng thành và có khả năng lao động. Tạm thời anh Vòng Thanh L không cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, chị Đ, anh L có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi

dưỡng, giáo dục con chung. Anh L (không trực tiếp nuôi con) có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở. Vì quyền lợi của trẻ, khi cần thiết các bên được quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định tại Điều 84, 110, 118 Luật hôn nhân gia đình.

3. Về tài sản chung: Không xem xét giải quyết.

4. Về nợ chung: Không xem xét giải quyết.

5. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Ngọc Đ phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn

đồng) án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Khấu trừ số tiền tạm ứng án phí chị Đ đã nộp theo biên lai thu số 0004332 ngày 17/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa, chị Đ đã nộp xong.

6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án

trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận:

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Đương sự;

- VKSND TP. Biên Hòa;

- TAND tỉnh Đồng Nai;

- Chi cục THADS TP. Biên Hòa ;

- Nơi đăng ký kết hôn ;

- Lưu : HS, VP.

Lê Thị Tám

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ