- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vương, Dươl"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần V.
- Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 84/2023/HNGĐ-ST. Ngày: 14 – 8 – 2023 “V/v Ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đặng Thị Ngọc Trân.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Bà Hà Ngân Kim Tới.
2/ Ông Huỳnh Minh Thuận.
- Thư ký phiên tòa: Bà Ông Thị Cành Nha - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề tham gia phiên tòa: Bà Lý Thị Thanh Hoa, Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh S, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 122/2023/TLST- HNGĐ ngày 06 tháng 6 năm 2023 về việc “Ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 78/2023/QĐXXST–HNGĐ ngày 07 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Ông Trần V; Sinh năm 1985; Địa chỉ: Số 109, khóm S, phường V, thị xã V, tỉnh S (Ông V vắng mặt – có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt).
* Bị đơn: Bà Sơn Thị D; Sinh năm 1993; Địa chỉ: Số 139 ấp T, xã V, huyện T, tỉnh S (Bà D vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và lời khai tại Tòa án, nguyên đơn ông Trần V trình bày:
Ông với bà Sơn Thị D tổ chức lễ cưới vào năm 2011 và cũng trong năm 2011, ông bà đi đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện V (nay là Ủy ban nhân dân phường V, thị xã V), tỉnh S và được Ủy ban nhân dân xã V cấp giấy chứng nhận kết hôn số 135 năm 2011 (Giấy chứng nhận kết hôn không ghi ngày tháng). Sau khi kết hôn, hai vợ chồng sống ở nhà cha mẹ ông V ở số 109, khóm S, phường V, thị xã V, tỉnh S. Đến năm 2019, vợ chồng ông về sống bên nhà cha mẹ vợ ở số 139 ấp T, xã V, huyện T, tỉnh S. Ông bà chung sống cho đến tháng 11 năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng ý kiến, thường xuyên cãi vã làm cho cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc nữa. Hai người đã ly thân từ tháng 11 năm 2022 cho đến nay.
Trong quá trình chung sống, ông V với bà D có ba con chung là Trần Minh H, sinh ngày 25/8/2011, Trần Minh H, sinh ngày 07/02/2016 và Trần Minh H, sinh ngày 27/10/2020. Cháu H đang sống với cha, còn cháu H và cháu H đang sống với mẹ.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
Nay ông Trần V yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Yêu cầu được ly hôn với bà Sơn Thị D.
- Về con chung: Yêu cầu được nuôi dưỡng cháu Trần Minh H, không yêu cầu bà D cấp dưỡng nuôi cháu H. Ông V đồng ý để bà Sơn Thị D được nuôi dưỡng hai con Trần Minh H và Trần Minh H. Ông V đồng ý cấp dưỡng nuôi mỗi người con là 1.000.000 đồng/tháng.
- Về tài sản chung và nợ chung: Ông V trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn bà Sơn Thị D không có lời trình bày do vắng mặt.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã ban hành thông báo thụ lý số 122/TB-TLVA ngày 06 tháng 6 năm 2023, tống đạt hợp lệ cho bị đơn bà D nhưng bà D không có văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của ông V. Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ hai lần đối với bà D để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bà D đều vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án tiến hành mở phiên họp và đã lập biên bản không tiến hành hòa giải được. Đồng thời đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:
Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi khai mạc phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Thư ký đã tiến hành đúng, đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định. Tính đến ngày Tòa án có quyết định đưa vụ án ra xét xử, vụ án còn trong thời hạn chuẩn bị xét xử theo điểm a khoản 1 Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của ông Trần V ly hôn với bà Sơn Thị D. Về con chung: Giao cháu Trần Minh H cho ông Trần V trực tiếp nuôi dưỡng và giáo dục. Bà Sơn Thị D không phải cấp dưỡng nuôi cháu H; Giao cháu Trần Minh H và Trần Minh H cho bà Sơn Thị D trực tiếp nuôi dưỡng và giáo dục. Ông Trần V có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu H và cháu H mỗi tháng là 1.000.000 đồng (Một triệu đồng)/tháng/cháu. Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay, ông Trần V và bà Sơn Thị D đều vắng mặt nhưng nguyên đơn ông V có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt, còn bà D mặc dù đã được tống đạt giấy triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa sơ thẩm đến lần thứ 2 nhưng vắng mặt không rõ lý do. Do đó Tòa án căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án xét xử vắng mặt đối với ông V và bà D.
Về nội dung: Ông Trần V và bà Sơn Thị D kết hôn trên cơ sở tự nguyện và được Ủy ban nhân dân xã V, huyện V (nay là Ủy ban nhân dân phường V, thị xã V), tỉnh S cấp giấy chứng nhận kết hôn số 135 năm 2011 (Giấy chứng nhận kết hôn không ghi ngày tháng) nên quan hệ hôn nhân giữa ông V và bà D là hợp pháp. Nguyên đơn ông V vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện là yêu cầu Toà án cho ly hôn với bà D, yêu cầu được nuôi cháu H, không yêu cầu bà D cấp dưỡng nuôi con, đồng ý để bà D được nuôi hai cháu H và cháu H. Ông đồng ý cấp dưỡng nuôi hai con mỗi tháng là 1.000.000 đồng (Một triệu đồng)/tháng/cháu. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Về quan hệ hôn nhân: Xét lý do xin ly hôn của ông V, Hội đồng xét xử xét thấy, ông V và bà D kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không bị ép buộc. Hai người chung sống hạnh phúc cho đến tháng 11 năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng ý kiến, thường xuyên cãi vã làm cho cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc nữa. Hai người đã ly thân từ tháng 11 năm 2022 cho đến nay. Thời gian ly thân vợ chồng không ai tới lui, chăm sóc cho nhau. Xét thấy tình trạng hôn nhân của hai người đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, ông Trần V yêu cầu được ly hôn với bà Sơn Thị D là có căn cứ được quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: Cháu Trần Minh H, sinh ngày 25/8/2011 đang sống cùng ông V. Cháu Trần Minh H, sinh ngày 07/02/2016 và Trần Minh H, sinh ngày 27/10/2020 đang sống cùng bà D. Ông V trình bày từ khi hai người không còn sống chung thì cháu H do ông chăm sóc, nuôi dưỡng, cháu H và cháu H do bà D chăm sóc, nuôi dưỡng. Cháu H có nguyện vọng được sống với cha nếu cha và mẹ cháu ly hôn. Căn cứ vào khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử xem xét giao cháu Trần Minh H cho ông Trần V chăm sóc, nuôi dưỡng, giao cháu Trần Minh H và Trần Minh H cho bà Sơn Thị D chăm sóc, nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Trần V yêu cầu được nuôi dưỡng cháu Trần Minh H, không yêu cầu bà Sơn Thị D cấp dưỡng nuôi cháu H. Ông Trần V tự nguyện cấp dưỡng nuôi hai con Trần Minh H và Trần Minh H với mức cấp dưỡng là 1.000.000 đồng (Một triệu đồng)/tháng/cháu nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi hai con của ông Trần V.
Về tài sản chung và nợ chung: Ông Trần V trình bày không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Trần V phải chịu án phí về yêu cầu ly hôn và chịu án phí về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa về nội dung vụ án là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điều 56; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần V.
- Về hôn nhân: Ông Trần V được quyền ly hôn với bà Sơn Thị D.
- Về con chung: Giao cháu Trần Minh H, sinh ngày 25/8/2011 cho ông Trần V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục; Giao cháu Trần Minh H, sinh ngày 07/02/2016 và cháu Trần Minh H, sinh ngày 27/10/2020 cho bà Sơn Thị D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.
Ông Trần V và bà Sơn Thị D có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được quyền ngăn cản. Ông Trần V và bà Sơn Thị D không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung của mỗi người. Trường hợp người nào lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người đang trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì quyền lợi hợp pháp của con, Tòa án có thể thay đổi người nuôi con, giải quyết việc cấp dưỡng cho con theo quy định của pháp luật.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Sơn Thị D không phải cấp dưỡng nuôi cháu Trần Minh H; Ghi nhận sự tự nguyện của ông Trần V tự nguyện cấp dưỡng nuôi cháu Trần Minh H và cháu Trần Minh H với mức cấp dưỡng là 1.000.000 đồng (Một triệu đồng)/tháng/cháu, cấp dưỡng cho đến khi hai cháu đủ 18 tuổi. Thời gian cấp dưỡng tính từ ngày 14 tháng 8 năm 2023. Bà Sơn Thị D là người trực tiếp nhận tiền cấp dưỡng.
Địa điểm giao nhận tiền cấp dưỡng: Tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, tỉnh S.
- Về tài sản chung và nợ chung: Ông Trần V trình bày không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn ông Trần V phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí về yêu cầu ly hôn và 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Tổng cộng là 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng). Ông Trần V được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0006809 ngày 23/5/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, tỉnh S. Như vậy, ông Trần V phải nộp thêm 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo bản án: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: -VKSND huyện T; -Chi cục THA huyện T; -TAND tỉnh S (P.KTNV&THA); -Các đương sự. -UBND phường V, thị xã V, tỉnh S; -Lưu HSVA. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đặng Thị Ngọc Trân |