- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? [1] Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Ngọc H. Bà Nguyễn Ngọc H được ly hôn với ông Nguyễn Văn N.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 84/2023/HNGĐ-ST. Ngày: 26/6/2023. V/v:“Tranh chấp ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH - TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Sỹ Tuân.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Huynh.
Ông Lưu Đức Chung.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Trúc – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Long Thành.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 181/2023/HNGĐ-ST ngày 09/3/2023 về việc “Tranh chấp ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 61/2023/QĐXX-ST ngày 11/5/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 123/2023/QĐ-HPT ngày 30/5/2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1975 (có mặt).
Nơi đăng ký thường trú: Tổ A, ấp B, xã T, huyện Long Thành, Đồng Nai.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1972 (vắng mặt).
Nơi đăng ký thường trú: Tổ A, ấp B, xã T, huyện Long Thành, Đồng Nai.
NỘI DUNG VỤ ÁN
- Nguyên đơn bà Nguyễn Ngọc H trình bày: Bà và ông Nguyễn Văn N tự nguyện sống chung như vợ chồng từ năm 2006 nhưng đến năm 2015 với đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện Long Thành. Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc thời gian đầu, sau đó phát sinh mâu thuẫn do tính cách hai người không hợp nhau, giữa hai vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã nhau. Mặc dù cả hai đã tự hòa giải đoàn tụ nhưng không được, bà và ông N đã ly thân từ năm 2021 đến nay. Nay bà thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Văn N. Về con chung có 01 cháu là Nguyễn Thế Tr, sinh năm 2007, sau khi ly hôn bà đề nghị giao con chung cho bà chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn ông Nguyễn Văn N: Đã được Tòa án nhân dân huyện Long Thành triệu tập hợp lệ để làm việc, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia phiên tòa nhưng ông N vẫn vắng mặt không có lý do và cũng không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Ý kiến đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành tham gia phiên tòa: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Việc thu thập chứng cứ đầy đủ, khách quan, thời hạn tố tụng được đảm bảo và các văn bản tố tụng được tống đạt hợp lệ. Phiên tòa được thực hiện dân chủ, bình đẳng. Về nội dung vụ án: Bà Nguyễn Ngọc H và ông Nguyễn Văn N sống chung với nhau và có đăng ký kết hôn nên là hôn nhân hợp pháp, quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn không thể hàn gắn, nay bà H xin ly hôn đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của của bà H. Về con chung đề nghị giao cháu Nguyễn Thế Tr, sinh năm 2007 cho bà H chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, tạm thời ông N không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung các đương sự trình bày tự thỏa thuận nên không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Bị đơn ông Nguyễn Văn N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để làm việc, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như tham gia phiên tòa sơ thẩm nhưng ông N vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Ngọc H và ông Nguyễn Văn N kết hôn với nhau trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn và đã được Ủy ban nhân dân xã T, huyện Long Thành cấp giấy chứng nhận kết hôn số 62/2005 ngày 24/9/2015 nên là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, bà H trình bày phát sinh mâu thuẫn nhiều vấn đề trong cuộc sống với ông N và không thể hàn gắn, bà thấy tình cảm vợ chồng không còn. Xét thấy, hôn nhân giữa bà H và ông N lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên giải quyết cho bà H được ly hôn với ông N là phù hợp với quy định của Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam.
Về con chung: Có 01 con chung là cháu Nguyễn Thế Tr, sinh năm 2007. Sau khi ly hôn, giao con chung cho bà H chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, tạm thời ông N không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết.
Về án phí: Bà Nguyễn Ngọc H phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000đ.
Ý kiến đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành tại phiên tòa về nội dung vụ án là phù hợp nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 85, Điều 86, Điều 87 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
[1] Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Ngọc H. Bà Nguyễn Ngọc H được ly hôn với ông Nguyễn Văn N.
[2] Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thế Tr, sinh năm 2007 cho bà Nguyễn Ngọc H chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, tạm thời ông Nguyễn Văn N không phải cấp dưỡng nuôi con. Sau khi ly hôn, ông Nguyễn Văn N vẫn được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở ông N thực hiện quyền này. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên cũng như mức cấp dưỡng nuôi con chung.
[3] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự trình bày tự thỏa thuận nên không xem xét giải quyết.
[4] Về án phí: Bà Nguyễn Ngọc H phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí bà H đã nộp theo biên lai thu số 0009140 ngày 07/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Thành được trừ vào tiền án phí bà H phải nộp.
Bà Nguyễn Ngọc H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Nguyễn Văn N được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Nai. - VKSND H.Long Thành. - Chi cục THA.DS H.Long Thành. - UBND xã Long Phước. - Các đương sự. - Lưu: HS, VP, BP, TP(L). | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Mai Sỹ Tuân |