vanban.org

Bản án 84/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Bùi Thị Hồng D đối với ông Nguyễn Văn H. Cho bà Bùi Thị Hồng D được ly hôn với ông Nguyễn Văn H.

Về con chung: Quá trình sống chung, bà Bùi Thị Hồng D và ông Nguyễn Văn H có 01 con chung Nguyễn Thanh Nam, sinh ngày 22/12/2003. Khi ly hôn, con chung đã thành niên và có khả năng lao động nên không xét đến. Về tài sản chung; nợ chung: Bà Bùi Thị Hồng D khai không có, nên không xét đến. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, yêu cầu nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Bùi Thị Hồng D đối với ông Nguyễn Văn H. Cho bà Bùi Thị Hồng D được ly hôn với ông Nguyễn Văn H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÌNH ĐẠI, TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 84/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 17/7/2023
Về việc: “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH ĐẠI, TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Tháo.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Võ Minh Quang;

2. Ông Nguyễn Thanh Nhu;

- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Ngọc Huỳnh Như là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.

Ngày 17 tháng 7 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Đại, xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án dân sự thụ lý số: 82/2023/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 3 năm 2023 về việc “Ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 90/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 06 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 99/2023/QĐST-HNGĐ ngày 20 tháng 6 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Bùi Thị Hồng D, sinh năm 1983 (Vắng mặt).

Địa chỉ: ấp HT, xã CH, huyện BĐ, tỉnh BT.

Bà Bùi Thị Hồng D có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt đề ngày 05/6/2023.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1980 (Vắng mặt).

Địa chỉ: ấp LQ, xã LĐ, huyện BĐ, tỉnh BT.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn xin ly hôn đề ngày 01/12/2022, bản tự khai nguyên đơn bà Bùi Thị Hồng D trình bày như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Văn H cưới nhau trên tinh thần tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Châu Hưng, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre vào ngày 18/4/2003. Quá trình chung sống thời gian đầu có hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do cuộc sống không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống dẫn đến cãi vã. Nay, bà thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa, không thể hàn gắn được với ông H nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Văn H.

- Về con chung: Có 01 con chung Nguyễn Thanh Nam, sinh ngày 22/12/2003. Khi ly hôn, con chung đã thành niên và có khả năng lao động nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung: Không có.

- Về nợ chung: Không có.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Bình Đại đã tống đạt hợp lệ cho ông Nguyễn Văn H các văn bản tố tụng nhưng ông H vắng mặt không tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như xét xử nên Tòa án không thu thập được lời khai của ông Nguyễn Văn H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Nguyên đơn bà Bùi Thị Hồng D khởi kiện bị đơn ông Nguyễn Văn H. Ông Nguyễn Văn H có hộ khẩu thường trú tại ấp Hưng Thạnh, xã Châu Hưng, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Nguyễn Văn H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để xét xử, nhưng ông vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án xét xử vắng mặt ông là phù hợp quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự. Bà Bùi Thị Hồng D có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt đề ngày 05/6/2023. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng là phù hợp quy định tại Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Bùi Thị Hồng D và ông Nguyễn Văn H cưới nhau vào ngày 18/4/2003 trên tinh thần tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Châu Hưng, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre theo quy định của pháp luật nên quan hệ hôn nhân giữa bà D và ông H được công nhận là hợp pháp.

Sau khi kết hôn cuộc sống bà D và ông H sống không hạnh phúc từ năm 2022 cho đến nay do bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Bà D và ông H đã sống ly thân từ năm 2022 cho đến nay. Hơn nữa, Tòa án đã tiến hành mời ông H để hòa giải nhằm cho các bên có cơ hội hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng ông H không đến dự. Điều đó cho thấy ông H không còn muốn hàn gắn mối quan hệ hôn nhân với bà D, chứng tỏ hôn nhân giữa bà D và ông H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên bà D yêu cầu ly hôn với ông H là có căn cứ. Do đó, căn cứ theo quy định tại Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Bùi Thị Hồng D.

Về con chung: Quá trình sống chung, bà Bùi Thị Hồng D và ông Nguyễn Văn H có 01 con chung Nguyễn Thanh Nam, sinh ngày 22/12/2003. Khi ly hôn, con chung đã thành niên và có khả năng lao động nên không xét đến.

Về tài sản chung; nợ chung: Bà Bùi Thị Hồng D khai không có nên Hội đồng xét xử không xét đến.

Về án phí: Căn cứ theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/NQ-HĐTP quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, bà Bùi Thị Hồng D phải chịu số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, 147, 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/NQ-HĐTP quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Bùi Thị Hồng D đối với ông Nguyễn Văn H. Cho bà Bùi Thị Hồng D được ly hôn với ông Nguyễn Văn H.

2. Về con chung: Quá trình sống chung, bà Bùi Thị Hồng D và ông Nguyễn Văn H có 01 con chung Nguyễn Thanh Nam, sinh ngày 22/12/2003. Khi ly hôn, con chung đã thành niên và có khả năng lao động nên không xét đến.

3. Về tài sản chung; nợ chung: Bà Bùi Thị Hồng D khai không có, nên không xét đến.

4. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Bùi Thị Hồng D phải chịu số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà D đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0002201 ngày 16 tháng 03 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Đại. Vậy, bà Bùi Thị Hồng D đã nộp đủ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.

Bà Bùi Thị Hồng D, ông Nguyễn Văn H vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ