- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp về hợp đồng vay tài sản"
- Tòa quyết gì? p dụng các điều 117, 357, 463, 466, 468, 470 Bộ luật dân sự; khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 91, Điều 92, Điều 147, và các điều 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm b Khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN L TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 84/2023/DS-ST Ngày: 02 - 11 - 2023 V/v tranh chấp về hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN L, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Mỹ Xuân.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Thanh Liêm.
2. Bà Nguyễn Thị Phượng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Diễm Quỳnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
Vào các ngày 19 tháng 10 và 02 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện L xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 285/2023/TLST-DS, ngày 11 tháng 8 năm 2023, về việc “Tranh chấp về hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 230/2023/QĐXXST-DS ngày 19 tháng 9 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số: 190/2023/QĐST-DS ngày 30 tháng 9 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Chế Văn K; sinh năm: 1966; Địa chỉ: Số D, ấp B, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Tháp. Ông K c m t tại phiên tòa.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Bé B, sinh năm: 1970; Địa chỉ: Số A, ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp. Bà B c m t tại phiên tòa.
- Người làm chứng: Ông Lê Hồng D, sinh năm 1965; Địa chỉ: Số D ấp B, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Tháp. Ông D c m t tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Chế Văn K trình bày:
Vào ngày 19/11/2019 ông Chế Văn K c thỏa thuận cho bà Nguyễn Thị Bé B vay số tiền 20.000.000 đồng. Khi vay c làm biên nhận tuy nhiên khi cho vay ông K lấy biên nhận của chị Lê Thị Thùy D1 để cho bà B ký tên và ghi họ tên vào biên nhận do ông K không c mang biên nhận của mình. Ông K đã giao đủ tiền vay cho bà B ngay sau khi làm biên nhận, ông K là người trực tiếp giao tiền. Tuy khi vay tiền ông K và bà B không c ghi nhận về nghĩa vụ trả lãi trên số tiền nợ gốc vào biên nhận, nhưng hai bên c thỏa thuận bằng lời n i về lãi suất là 2%/tháng, vì thế ông K xác định đây là hợp đồng vay không c lãi, c thỏa thuận về thời hạn vay đến ngày 19/01/2020. Sau đ , khi đến hạn, nhiều lần ông K yêu cầu bà B trả tiền nhưng bà B không thực hiện nghĩa vụ trả nợ vay cho ông K.
Do bà B vi phạm nghĩa vụ trả nợ, nên ông Chế Văn K yêu cầu Tòa án buộc bà Nguyễn Thị B1 Bảy trả lại cho ông K số tiền nợ gốc là 20.000.000 đồng Hai mươi triệu đồng , và nợ lãi t nh t tháng 01/2020 đến ngày 11/9/2023 là 7.494.000 đồng bảy triệu bốn trăm ch n mươi bốn nghìn đồng , t ng cộng số tiền là 27.494.000 đồng Hai mươi bảy triệu bốn trăm ch n mươi bốn nghìn đồng .
Tại phiên tòa, ông Chế Văn K trình bày trong quá trình thực hiện hợp đồng vay, bà B cho trả cho ông K được 6.000.000 đồng tiền nợ lãi. Nay ông K thay đ i một phần yêu cầu khởi kiện. Cụ thể, ông K yêu cầu bà B trả số tiền nợ gốc và trả tiền lãi theo quy định pháp luật t ngày tháng 01/2020 đến ngày xét xử sơ thẩm là t ng cộng là 44 tháng v i lãi suất 0,83%/tháng, ông K đồng ý khấu tr 6.000.000 đồng bà B đã trả vào số tiền bà B phải trả.
Tại phiên tòa bị đơn Nguyễn Thị Bé B trình bày:
Bà B th a nhận c vay ông K số tiền 20.000.000 đồng, bà B th a nhận mình c ký tên vào Biên nhận do ph a ông K xuất trình nhưng không thống nhất v i nội dung tờ, vì cho rằng không c thỏa thuận về lãi và thời hạn như nội dung được ghi trong biên nhận. Bà cho rằng mình thật sự c vay của ông K số tiền 20.000.000 đồng vào năm 2019 âm lịch như ông K đã trình bày.
Sau khi vay tiền của ông K, bà B đã thực hiện nghĩa vụ trả nợ vay cho ông K t ng cộng là 20 lần, v i t ng số tiền là 23.000.000 đồng, nên bà cho rằng không còn nợ ông K. Những lần trả tiền cho ông K là do bà B trực tiếp trả ho c bà B nhờ ông Lê Hồng D trả dùm cho ông K. Bà B cho rằng việc vay tiền không thỏa thuận thời hạn mà ông K cho bà B trả dần và c ng không thỏa thuận việc trả lãi nhưng bà B đã trả cho ông K t ng cộng 23.000.000 đồng thì để xem như trả ông K đủ 20.000.000 đồng tiền nợ gốc và trả thêm 3.000.000 đồng coi như tình nghĩa. Khi trả tiền bà B trực tiếp ho c thông qua ông D trả cho ông K, không yêu cầu ông K làm biên nhận vì là ch bạn b tin tưởng, c ng không ai chứng kiến sự việc. C ng do tin tưởng nhau nên khi trả đủ 23.000.000 đồng cho ông K, bà c ng không yêu cầu ông K trả lại biên nhận cho mình.
Bà B cho rằng mình thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ vay cho ông K nên không đồng ý yêu cầu của ông K. Bà B yêu cầu Tòa án triệu tập ông Lê Hồng D vào tham gia tố tụng v i tư cách người làm chứng vì ông D biết sự việc bà B đã trả 23.000.000 đồng cho ông K. Trong đ , bà B c đưa tiền cho ông D trả cho ông K dùm bà B khoảng 7 lần v i số tiền 8.000.000 đồng.
Bà B và ông K thống nhất trình bày bà B chỉ vay 20.000.000 đồng của ông K, việc biên nhận ghi tên người cho vay là chị Lê Thị Thùy D1 là vì chị D1 là cháu ruột của ông K, chị D1 c s n m u Biên nhận ghi tên chị D1, ông K c mượn m u biên nhận để ghi. Bà B và ông K thống nhất không ý kiến, yêu cầu gì đối v i chị D1.
Tại phiên tòa ng i làm ch ng ông Lê Hồng D trình bày:
Ông D, ông K và bà B là ch quen biết. Ông D không biết r nội dung cụ thể thỏa thuận vay tiền của ông K và bà B, ông D chỉ biết bà B c vay tiền của ông K và c nhờ ông D trả tiền cho ông K như lời bà B trình bày. Những lần nhận tiền t bà B, ông D đều chuyển trả cho ông K nhận ra trực tiếp. Ông D không nh r đã nhận tiền và trả ông K dùm bà B bao nhiêu tiền, ông D thống nhất lời khai của bà B về số tiền mình đã nhận trả dùm bà B.
Ông D cam kết lời khai mình là đ ng sự thật và chịu trách nhiệm v i lời khai của mình.
Ông K không đồng ý v i lời khai của ông D vì ông K không c nhận tiền gì của bà B t ông D.
Bà B không yêu cầu gì v i ông D, ông D c ng không yêu cầu gì đối v i số tiền mà B đã nhờ ông D trả cho ông K trong vụ án này và ông D c ng không yêu cầu gì v i ông K.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ c trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả số tiền nợ gốc và nợ lãi theo hợp đồng vay được giao kết giữa bên cho vay là nguyên đơn và bên vay là các bị đơn. T đ xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp về hợp đồng dân sự vay tài sản” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, quy định tại Khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự, quan hệ tranh chấp dân sự này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện, quy định tại Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Do bị đơn là chị Nguyễn Thị Bé B c địa chỉ thường tr tại huyện L, tỉnh Đồng Tháp, nên Tòa án nhân dân huyện L thụ lý và giải quyết vụ án là đ ng quy định tại Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa ngày 19 tháng 10 năm 2023, bà B c yêu cầu triệu tập ông Lê Hồng D, sinh năm 1965; Địa chỉ: Số D ấp B, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Tháp đến tham gia phiên tòa v i tư cách là người làm chứng để trình bày lời khai về nội dung sự việc, chứng minh cho lời trình bày của bà B tại phiên tòa là đ ng sự thật. Ông D c ng c m t nên Tòa án để ông D tham gia phiên tòa theo yêu cầu của bà B.
Các đương sự đều thống nhất nội dung tranh chấp hợp đồng vay này là tranh chấp giữa nguyên đơn là ông K là người cho vay tiền v i bị đơn là bà B là người vay tiền, hoàn toàn không liên quan t i chị Lê Thị Thùy D1. Chị D1 c ng c văn bản ghi ý kiến gửi đến Tòa án, chị D1 thống nhất không liên quan gì vụ án này, nên yêu cầu không tham gia tố tụng trong vụ án.
Việc ông K thay đ i yêu cầu khởi kiện để điều chỉnh mức tiền nợ gốc và nợ lãi tình đến ngày xét xử sơ thẩm mà ph a bị đơn là bà B c nghĩa vụ trả, nội dung thay đ i v n nằm trong phạm vi giải quyết là tranh chấp hợp đồng vay nên chấp nhận.
Về nội dung:
Về việc giao kết hợp đồng vay giữa nguyên đơn và bị đơn:
Nguyên đơn là ông K và bị đơn là bà B đều thống nhất c giao kết hợp đồng vay và c làm Biên nhận ngày 19/11/2019 như bản ch nh Biên nhận ph a nguyên đơn xuất trình. Tại phiên tòa bị đơn c ng th a nhận c vay của nguyên đơn số tiền là 20.000.000 đồng, khi vay c làm và ký tên vào biên nhận nhận tiền và đã nhận đủ số tiền vay t ông K. Cả nguyên đơn và bị đơn thống nhất giải th ch lý do trong biên nhận thể hiện tên của người cho vay là Lê Thị Thùy D1 vì khi làm biên nhận nguyên đơn là ông K mượn biên nhận theo m u c s n c của chị D1 cháu ruột ông K để làm biên nhận khi giao tiền vay cho bà B. Ông K và bà B đều thống nhất hợp đồng vay này được giao kết giữa bên cho vay là ông K và bên vay là bà B, chị D1 không c liên quan gì. Ngoài ra, chị Lê Thị Thùy D1 c văn bản trình bày ý kiến thể hiện nội dung sự việc đ ng như ông K và bà B trình bày, chị D1 xác định mình không liên quan gì trong hợp dồng vay này.
Về hiệu lực của các hợp đồng vay đã giao kết.
Khi ông K và bà B giao kết các hợp đồng vay này đều đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự. Bà B c tự ghi tên vào các giấy vay tiền và mục đ ch vay để sửa nhà, cho thấy mục đ ch, nội dung của giao dịch dân sự nêu trên không vi phạm điều cấm của luật c ng như không trái đạo đức xã hội. Hợp đồng vay được các bên ký kết đã đảm bảo các điều kiện c hiệu lực của giao dịch dân sự được quy định tại Điều 117 Bộ luật dân sự, nên các hợp đồng vay này được công nhận và pháp luật bảo vệ.
Về nội dung và quá trình thực hiện hợp đồng vay
Nội dung hợp đồng vay được thể hiện bằng Biên nhận đề ngày 19/11/2019 giữa người cho vay là ông K, người vay tiền là bà B; số tiền vay là 20.000.000 đồng; Những nội dung này được bà B th a nhận.
- Về nghĩa vụ trả lãi: Trong biên nhận ngày 19/11/2019 không ghi nghĩa vụ trả lãi, nhưng ông K trình bày là c thỏa thuận bằng lời n i về nghĩa vụ trả lãi, đồng thời trong quá trình thực hiện hợp đồng vay bà B c trả cho ông K 6.000.000 triệu xem như tiền đ ng lãi. Nội dung trình bày này của ông K không được bà B th a nhận, ngoài ra, bà B cho rằng mình đã 23.000.000 đồng, trong đ 20.000.000 đồng tiền vốn vay, còn 3.000.000 đồng là tiền trả thêm xem như tình nghĩa chứ không phải là trả lãi. Do vậy, không c cơ sở xác định hợp đồng vay này c thỏa thuận về nghĩa vụ trả lãi mà chỉ là hợp đồng vay không c lãi.
Về thời hạn vay: Ông K cho rằng c thỏa thuận về thời hạn vay trong biên nhận. Bị đơn Nguyễn Thị Bé B không thống nhất lời trình bày của ông K về thời vay và cho rằng không biết nội dung này trong biên nhận vì không giữ biên nhận. Do lời trình bày của ông K phù hợp v i nội dung về thời hạn được ghi nhận trong bản ch nh Biên nhận 19/11/2019, lời phản bác của bà B không phù hợp vì bà B c ng th a nhận c lập biên nhận và ký tên vào biên nhận nên không c cơ sở chấp nhận phản bác của bà B về nội dung này. T những phân t ch này xác định thời hạn vay của hợp đồng đã được ghi trong biên nhận là đến ngày 19/01/2020.
- Về quá trình thực hiện hợp đồng vay:
Ông K và bà B đều thống nhất sau khi giao kết hợp đồng, ông K đã giao cho bà B nhận đủ 20.000.000 đồng tiền vay.
Ông K xác định trong thời hạn vay bà B c trả cho ông K 6.000.000 đồng. Ngoài ra đến nay, bà B hoàn toàn không trả thêm cho ông K khoản tiền nào.
Bị đơn là bà B xác định trong quá trình thực hiện hợp đồng vay này, đã trả tiền lãi cho ông K số tiền 23.000.000 đồng nhiều lần trong đ c 20.000.000 đồng tiền nợ gốc và 3.000.000 đồng cho thêm xem như ơn nghĩa giữa hai bên . Bà B c yêu cầu xem xét lời khai của ông D tại phiên tòa là chứng cứ chứng minh cho lời trình bày của bà B về việc đã trả xong nợ vay cho ông K. Lời phản bác của bà B tại phiên tòa được chứng minh bằng lời khai của người làm chứng là ông D là chứng cứ chủ quan. Nội dung phản bác của bà B và lời khai của ông D không được nguyên đơn là ông K th a nhận, bà B và ông D c ng không xuất trình được chứng cứ khách quan chứng minh cho nội dung phản bác của mình. M t khác, bà B c ng không ý kiến gì về yêu cầu số tiền đã giao cho ông D trả ông K thay cho mình, nên không xem xét. Cho nên xác định nội dung phản bác của bà B là không c cơ sở.
Do ông K xác định, trong thời hạn vay bà B c trả ông K 6.000.000 đồng, ông K xem đây là tiền lãi, nhưng đây là hợp đồng vay không c lãi, c thời hạn, nghĩa vụ trả lãi được xác định theo khoản 4 Điều 466 Bộ luật dân sự: “4. Tr ng hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên cho vay có quyền yêu cầu trả tiền lãi với m c lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này trên số tiền chậm trả t ơng ng với th i gian chậm trả, trừ tr ng hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.”
Vậy nên bên vay chỉ phát sinh nghĩa vụ trả lãi khi hợp đồng đến hạn. Việc bà B trả ông K 6.000.000 đồng trong thời hạn vay là tiền nợ gốc nên xác định khi hợp đồng đến hạn, bà B chỉ còn nợ ông K số tiền nợ gốc là 14.000.000 đồng.
Về yêu cầu của nguyên đơn.
- Đối v i hợp đồng vay giữa ông Chế Văn K và chị Nguyễn Thị Bé B:
Được điều chỉnh Theo Khoản 1 Điều 470 Bộ luật dân sự: “1. Đối với hợp đồng vay có kỳ hạn và không có lãi thì bên vay có quyền trả lại tài sản bất c lúc nào, nh ng phải báo tr ớc cho bên cho vay một th i gian hợp lý, còn bên cho vay chỉ đ ợc đòi lại tài sản tr ớc kỳ hạn, nếu đ ợc bên vay đồng ý.”
Hợp đồng vay giữa ông K và bà B đến hạn vào tháng 01/2020 nhưng bà B không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ, nên ông K c quyền đòi lại tiền nợ gốc là 14.000.000 đồng và tiền lãi chậm trả theo khoản 4 Điều 466 Bộ luật dân sự.
Do vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc 14.000.000 đồng trong hợp đồng vay c kỳ hạn và không lãi, tại phiên tòa ông K c ng thay đ i yêu cầu bà B trả tiền nợ gốc và lãi theo quy định, cụ thể yêu cầu bà B trả nợ lãi là 44 tháng v i mức lãi suất 0,83%/ tháng, nên xác định tiền lãi t nh đến ngày xét xử sơ thẩm là 5.112.800 đồng. Do yêu cầu của ông K c ng phù hợp quy định nên chấp nhận, buộc bà B c nghĩa vụ trả ông K số tiền nợ gốc và lãi đến ngày xét xử sơ thẩm là 19.113.000 đồng. Mười ch n triệu, một trăm mười ba nghìn đồng là phù hợp v i quy định tại các điều 466, 470 Bộ luật dân sự.
Lời lời khai của người làm chứng là lời khai chủ quan phù hợp v i lời phản bác của bị đơn, nhưng không được nguyên đơn th a nhận, bị đơn và người làm chứng c ng không xuất trình được chứng cứ khách quan là văn bản giấy tờ ghi nhận việc giao trả tiền cho nguyên đơn, nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.
Về việc bà B giao tiền cho ông D trả cho ông K dùm bà B là lời trình bày và thỏa thuận giữa bà B và ông D, hai bên không yêu cầu gì trong vụ án này, ông D c ng không yêu cầu gì đối v i ông K nên không xem xét.
Về án ph dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 20/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án ph và lệ ph Tòa án, buộc bà B phải chịu án ph dân sự sơ thẩm, ông K không phải chịu án ph dân sự sơ thẩm.
Do phần nghĩa vụ của các bị đơn là phần nghĩa vụ trong hợp đồng vay không c thỏa thuận về việc trả lãi nên nghĩa vụ chậm thi hành án trên số tiền còn phải thi hành án của người phải thi hành án được thực hiện theo quy định tại điểm b Khoản 1 Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP, ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Về quyền kháng cáo, thời hạn kháng cáo thực hiện theo quy định tại các điều 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
p dụng các điều 117, 357, 463, 466, 468, 470 Bộ luật dân sự; khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 91, Điều 92, Điều 147, và các điều 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm b Khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Chế Văn K.
Buộc bà Nguyễn Thị Bé B c nghĩa vụ trả cho ông Chế Văn K số tiền nợ gốc trong hợp đồng vay được theo Biên nhận ngày 19/11/2019 và tiền lãi t nh đến ngày xét xử sơ thẩm t ng cộng là 19.113.000 đồng Mười ch n triệu, một trăm mười ba nghìn đồng .
2. Về án ph dân sự sơ thẩm:
Chị Nguyễn Thị Bé B phải chịu số tiền án ph dân sự sơ thẩm là 956.000 đồng Ch n trăm năm mươi sáu nghìn đồng . Bà B chưa nộp.
Ông Chế Văn K không phải chịu tiền án ph dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho ông K số tiền tạm ứng án ph đã nộp là 940.000 đồng Ch n trăm, bốn mươi nghìn đồng theo Biên lai nộp tiền tạm ứng án ph , lệ ph Tòa án số 0003765, ngày 07/8/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện L.
3. Ông Chế Văn K và Nguyễn Thị Bé B c quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể t ngày tuyên án.
4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án ho c bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a , 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Tháp; - VKSND huyện L; - CC.THADS huyện L; - Các đương sự; - Lưu: HSVA, VPTA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Hà Th M Xuân |