- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lỳ Mỳ T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo: Lỳ Mỳ T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ TỈNH LAI CHÂU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 84/2022/HSST Ngày: 16/06/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lò Xuân Hải.
Các hội thẩm nhân dân:
Ông: Lý Ngọc Sáng.
Ông: Nguyễn Công Đại.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đới Xuân Huy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè tham gia phiên tòa: Ông Võ Văn Tuấn - Kiểm sát viên.
Trong ngày 16 tháng 06 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường T, tỉnh Lai C, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 82/2022/TL-ST-HS, ngày 22 tháng 04 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 88/2022/QĐXXST-HS, ngày 03 tháng 06 năm 2022 đối với bị cáo.
- Lỳ Mỳ T: Giới tính: Nữ; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 01/01/1978, tại xã Nậm K, huyện Mường T, tỉnh Lai C; Nơi thường trú: Bản Nậm P, xã Nậm K, huyện Mường T, tỉnh Lai C; Quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Dân tộc: La Hủ; Tôn giáo: Không; Đảng, đoàn: Không; Con ông Lỳ Gia L, sinh năm 1950 và con bà Vàng Mỳ L, sinh năm 1954; Chồng: Không; Con: có 01 con, sinh năm 2013; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân chưa bị xử lý; Bị tạm giữ từ ngày 31/12/2021 đến ngày 09/01/2022 bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã Nậm K, huyện Mường T, tỉnh Lai C cho đến nay, có mặt.
- Người phiên dịch cho bị cáo Lỳ Mỳ T: Anh Vàng Ma Xá, sinh năm 1979 - Trú tại: Khu phố 7, thị trấn Mường T, huyện Mường T, tỉnh Lai C - Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 08 giờ ngày 27/12/2021, Lỳ Mỳ T đi bộ từ nhà đến khu vực cầu treo bản Nậm P, xã Nậm K, huyện Mường T, tỉnh Lai C, để làm ruộng thì gặp một người đàn ông lạ mặt, qua trao đổi, T đã mua được của người đàn ông này 01 (một) gói Heroine được gói ngoài bằng mảnh nilon màu xanh và 28 (hai tám) gói nhựa thuốc phiện bên ngoài đều được gói bằng mảnh nilon màu xanh đựng chung trong một lọ nhựa màu trắng không có nắp và được gói lại bằng một mảnh nilon màu xanh, với giá 1.600.000 đồng mục đích là để sử dụng, sau đó T đi vào lán ruộng của mình rồi lấymột ít Heroine ra sử dụng, số thuốc phiện và Heroine còn lại, T cất giấu vào trong chiếc túi da màu đen và luôn đeo trên người để sử dụng dần. Đến sáng ngày 31/12/2021, T đi sang nhà Lò Gạ H ở cùng bản Nậm P để chơi, đến hồi 09 giờ 15 phút cùng ngày khi T đi về đến đầu cầu treo bản Nậm P, xã Nậm K, thì bị tổ công tác Công an xã Nậm K, huyện Mường T phát hiện bắt quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng có liên quan.
Tại kết luận giám định tư pháp số 15/KLGĐ, ngày 31/12/2021 của người giám định tư pháp thuộc Công an huyện Mường T, tỉnh Lai C kết luận: 01 gói chất bột khô, màu trắng thu giữ của Lỳ Mỳ T có khối lượng là 3,71 gam; 28 gói chất nhựa dẻo, màu nâu đen, có mùi hắc thu giữ của Lỳ Mỳ T có tổng khối lượng là 13,31 gam.
Tại kết luận giám định số: 82/GĐ-KTHS ngày 07/01/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai C kết luận: 01 (một) mẫu chất bột, màu trắng (ký hiệu Mẫu 01) thu giữ của Lỳ Mỳ T gửi giám định là ma túy, loại Heroine; 28 (hai mươi tám) mẫu chất dẻo, màu nâu đen, có mùi hắc (ký hiệu từ mẫu 02 đến mẫu 29) thu giữ của Lỳ Mỳ T gửi giám định là ma túy, loại thuốc phiện.
Tại bản cáo trạng số: 40/CT-VKS-MT ngày 22 tháng 04 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường T, truy tố Lỳ Mỳ T về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", tại phiên tòa hôm nay vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường T vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử, xử lý:
- Về trách nhiệm hình sự: Đối với Lỳ Mỳ T về tội danh "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
- Về hình phạt chính: Áp dụng Điều 38; Điều 50; điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lỳ Mỳ T từ: 04 (bốn) năm đến 05 (năm) năm tù.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo, do điều kiện của bị cáo.
- Về vật chứng: Áp dụng điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy: 3,11 gam Heroine; 30 mảnh nilon màu xanh; 01 lọ nhựa màu trắng không có nắp đậy; 01 chiếc túi da màu đen, nhãn hiệu Jeep, có dây đeo đã qua sử dụng là vật chứng còn lại thu giữ của Lỳ Mỳ T.
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Do gia đình và bản thân bị cáo là hộ nghèo của xã Nậm K. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét miễn án phí hình sự sơ thẩm theo điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí tòa án, cho bị cáo.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa việc bị cáo khai báo là hoàn toàn tự nguyện, không bị mớm cung, ép cung, bị cáo không khiếu nại gì về quyết định, hành vi của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Sau khi tranh luận Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên mức hình phạt chính như đã đề nghị. Lời nói sau cùng bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được cơ quan tiến hành tố tụng thu thập có trong hồ sơ vụ án như vậy có đủ cơ sở để kết luận: Hồi 09 giờ 15 phút ngày 31/12/2021 tại đầu cầu treo bản Nậm P, xã Nậm K, huyện Mường T, tỉnh Lai C. Lỳ Mỳ T đang có hành vi tàng trữ trái phép 3,71 gam Heroine và 13,31 gam nhựa thuốc phiện mục đích là để sử dụng cho bản thân, thì bị tổ công tác Công an xã Nậm K, huyện Mường T phát hiện bắt quả tang. Tổng tỷ lệ % về khối lượng thuốc phiện và Heroine đã thu giữ của Lỳ Mỳ T so với mức tối thiểu thuốc phiện và Heroine quy định tại các điểm e, điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự là 76,862% (dưới 100%) do đó hành vi của Lỳ Mỳ T thuộc trường hợp quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", vì vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường T đã truy tố bị cáo về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội, bị cáo không khiếu nại gì đối với các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do vậy hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đều hợp pháp, đúng pháp luật.
. Hành vi của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm vào chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với chất ma túy, gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương, bị cáo hiểu được điều đó nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng một mức hình phạt nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo gây ra nhằm cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện, có ích cho xã hội và gia đình. Khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cần xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định hình phạt đối với bị cáo.
. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét thấy: Bị cáo Lỳ Mỳ T luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, cần được xem xét áp dụng cho bị cáo. Bị cáo là phụ nữ người dân tộc thiểu số La Hủ, từ nhỏ không được đi học, nhận thức pháp luật hạn chế, gia đình thuộc hộ nghèo, sinh sống ở xã Nậm K là xã có điều kiện kinh tế, xã hội khó khăn, Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự này theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
. Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
. Về nhân thân: Bị cáo Lỳ Mỳ T có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, từ nhỏ không được đi học, lớn lên tham gia lao động sản xuất tại địa phương, nhận thức pháp luật hạn chế, chưa có tiền án, tiền sự, là người sử dụng chất ma túy nhiều năm. Bị cáo nhận thức rõ được hành vi tàng trữ chất ma túy của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích thỏa mãn nhu cầu sử dụng chất ma túy của bản thân nên đã cố ý phạm tội.
. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 triệu đồng, xét thấy: Bị cáo là phụ nữ người dân tộc thiểu số La Hủ, nghề nghiệp trồng trọt, thu nhập thấp, từ nhỏ không được đi học, nhận thức pháp luật hạn chế, là người sử dụng chất ma túy nhiều năm, gia đình khó khăn là hộ nghèo của xã Nậm K là xã có điều kiện kinh tế, xã hội khó khăn. Do vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.
. Vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy: 3,11 gam Heroine; 30 mảnh nilon màu xanh; 01 lọ nhựa màu trắng không có nắp đậy; 01 chiếc túi da màu đen, nhãn hiệu Jeep, có dây đeo đã qua sử dụng là vật chứng còn lại thu giữ của Lỳ Mỳ T. [8]. Về án phí: Xét thấy, Bị cáo là phụ nữ người dân tộc thiểu số La Hủ, nghề nghiệp trồng trọt, thu nhập thấp, từ nhỏ không được đi học, nhận thức pháp luật hạn chế, là người sử dụng chất ma túy nhiều năm, gia đình khó khăn là hộ nghèo của xã Nậm K là xã có điều kiện kinh tế, xã hội khó khăn. Do vậy Hội đồng xét xử xem xét miễn án phí hình sự sơ thẩm theo điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội, cho bị cáo. [9]. Từ những phân tích như trên, Hội đồng xét xử có cơ sở khách quan và căn cứ pháp lý để kết luận: Bị cáo Lỳ Mỳ T đã phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự; do vậy ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh, điều luật áp dụng, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 52 Bộ luật hình sự; Xử lý vật chứng; Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự; Miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội đối với bị cáo là có cơ sở đúng quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử chấp nhận. [10]. Đối với người đàn ông lạ mặt đã bán Heroine và nhựa thuốc phiện với giá 1.600.000 đồng cho bị cáo Lỳ Mỳ T. Trong qúa trình điều tra không xác định được lai lịch của người đàn ông này nên không đủ căn cứ để xử lý. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
- Tuyên bố bị cáo: Lỳ Mỳ T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Căn cứ vào Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lỳ Mỳ T: 04 (bốn) năm tù. Được khấu trừ 09 (chín) ngày tạm giữ kể từ ngày 31/12/2021 đến ngày 09/01/2022. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
- Về hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự: Không áp dụng đối với bị cáo Lỳ Mỳ T.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy: 3,11 gam Heroine; 30 mảnh nilon màu xanh; 01 lọ nhựa màu trắng không có nắp đậy; 01 chiếc túi da màu đen, nhãn hiệu Jeep, có dây đeo đã qua sử dụng là vật chứng còn lại thu giữ của Lỳ Mỳ T.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lỳ Mỳ T.
- Về quyền kháng cáo: Theo quy định tại Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận - TAND tỉnh Lai Châu; - VKSND tỉnh Lai Châu; - VKSND huyện M.Tè; - Công an huyện M.Tè; - Cơ quan THAHS Công an huyện M.Tè; - Trại tạm giam; - Chi cục THADS huyện M.Tè; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ VA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Lò Xuân Hải |