vanban.org

Bản án 84/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An Tuyên án 28/10/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị D phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt Nguyễn Thị D 15 (Mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ. Không khấu trừ thu nhập đối với bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ của bị cáo Nguyễn Thị D được tính từ ngày Cơ quan tổ chức được giao giám sát bị cáo nhận được quyết định thi hành án và bản … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị D phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ H M
TỈNH N A

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 84/2022/HS-ST
Ngày 28-10-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ H M, TỈNH N A

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Huy;

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Lý và ông Nguyễn Yên Dũng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Cao Trọng Sơn – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã H M, tỉnh N A.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã H M, tỉnh N A tham gia phiên tòa: Bà Văn Thị Thu Hường - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 6 năm 2022, tại Tòa án nhân dân thị xã H M, tỉnh N A xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 76/2022/TLST-HS ngày 06 tháng 10 năm 2022; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 178/2022/HSST-QĐXX ngày 17 tháng 10 năm 2022 đối với bị cáo:

Họ tên: Nguyễn Thị D; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ;

Sinh ngày: 02/02/1955; Tại thị xã H M, tỉnh N A;

Nơi cư trú: Khối H P, phường Q P, thị xã H M, tỉnh N A;

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không;

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 02/10;

Họ tên cha: Nguyễn Văn N, đã chết;

Họ tên mẹ: Nguyễn Thị Đ, đã chết;

Anh, chị, em ruột: Gia đình có 06 người, bị cáo là thứ ba;

Chồng: Trần Văn Hường, đã chết;

Con: 05 người, lớn nhất sinh năm 1974, nhỏ nhất sinh năm 1988;

Tiền án: Không.

Tiền sự: Ngày 03/11/2021, bị Công an phường Q P, thị xã H M xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc trái phép”, số tiền 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng) theo Quyết định số 56/QĐ-XPHC, chấp hành xong ngày 09/11/2021.

Nhân thân:

- Ngày 30/01/2015, bị Công an phường Q P, thị xã H M xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc”, số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) theo Quyết định số 72/QĐ-XPĐG, đã thi hành xong vào ngày 12/5/2015.

- Ngày 17/11/2015, bị Công an phường Q P, thị xã H M xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc”, số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) theo Quyết định số 02/QĐ-XPHC, chấp hành xong ngày 18/11/2015.

- Ngày 24/8/2016, bị Công an phường Q P, thị xã H M xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc”, số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) theo Quyết định số 112/QĐ-XPHC, chấp hành xong ngày 24/8/2016.

Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt tại phiên tòa).

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Phan Văn D. Sinh năm 1971 (Có mặt).

Trú tại: Khối T H, phường Q P, thị xã H M, tỉnh N A

2. Chị Nguyễn Thị Ngh. Sinh năm 1990 (Có mặt).

Trú tại: Khối Ph H, phường Q P, thị xã H M, tỉnh N A

3. Chị Trần Thị L. Sinh năm 1974 (Có mặt).

Trú tại: Khối Th Á, phường Q P, thị xã H M, tỉnh N A

4. Bà Phạm Thị Ch. Sinh năm 1957 (Có mặt).

Trú tại: Khối Th Á, phường Q P, thị xã H M, tỉnh N A

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 12 giờ 30 phút ngày 23/8/2022, Nguyễn Thị D cùng Phan Văn D, Nguyễn Thị Ngh và Trần Thị L lần lượt đến nhà bà Phạm Thị Ch vì có đám giỗ của chồng bà Ch. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, sau khi ăn xong, Nguyễn Thị D, Phan Văn D, Nguyễn Thị Ngh và Trần Thị L rủ nhau đánh bạc thắng thua bằng tiền thì mọi người đồng ý. Lúc này, Nghĩa bảo một cháu nhỏ tại nhà bà Ch (không rõ lai lịch) đi mua 01 (một) bộ bài tú lơ khơ 52 quân, sau đó tất cả ngồi đánh bạc tại giường đặt trước sân nhà bà Ch. Bốn đối tượng thống nhất đánh bạc bằng hình thức đánh bài “Phỏm”, mức thắng thua mỗi ván từ 5.000 đồng (năm nghìn đồng) đến 30.000 đồng (ba mươi nghìn đồng), với cách thức đánh bạc như sau: Bắt đầu ván bài, chia đều cho mỗi người 09 (chín) lá bài theo thứ tự vòng tròn, người chia bài được chia 10 (mười) lá bài. Số lá bài còn lại đặt giữa chiếu bạc. Người có 10 (mười) lá bài đánh trước, đánh 01 (một) lá bài bất kỳ cho người kế tiếp, người kế tiếp này có thể “ăn” bài để tạo “phỏm” hoặc nếu không “ăn” thì bốc 01 (một) lá bài ở giữa chiếu. Sau đó, người này đánh 01 (một) lá bài bất kỳ cho người kế tiếp. Cứ như thế cho đến khi có người có bài “ù” hoặc hết bài ở giữa chiếu. Bài “ù” phải có 03 (ba) “phỏm”. “Phỏm” là bộ ba lá bài trở lên có cùng chất, liên tiếp nhau hoặc có cùng số, khác chất. “Ăn” bài để tạo “phỏm” là lấy 01 (một) lá bài do người đánh trước đó, kết hợp với các lá bài của mình để tạo thành “phỏm”. Người có bài “ù” thắng tất cả những người còn lại, mỗi người 30.000 đồng (ba mươi nghìn đồng). Nếu đánh đến hết bài mà không có bài “ù” thì cả bốn người lần lượt hạ bài, hạ “phỏm”, số lá bài còn lại sau khi hạ “phỏm” của mỗi người được tính điểm. Bài của người nào có điểm thấp nhất thì xếp thứ nhất, có điểm cao dần thì lần lượt xếp thứ hai, ba và xếp cuối. Người xếp thứ nhất thắng người xếp thứ hai 5.000 đồng (năm nghìn đồng), thắng người xếp thứ ba 10.000 đồng (mười nghìn đồng), thắng người xếp cuối 15.000 đồng (mười lăm nghìn đồng). Nếu khi hạ bài, bài của người nào không có “phỏm” thì gọi là bài bị “cháy” và thua người xếp thứ nhất 20.000 đồng (hai mươi nghìn đồng). Cả bốn người quy ước, sau mỗi ván, người có bài “ù” hoặc người xếp thứ nhất bỏ ra số tiền 10.000 đồng (mười nghìn đồng) để góp vào tiền mua thịt gà ăn.

Đến khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, Nguyễn Thị D, Phan Văn D, Nguyễn Thị Ngh và Trần Thị L đang đánh bạc thì bị Tổ công tác Công an thị xã H M phát hiện. Nguyễn Thị D bỏ chạy thoát, còn Phan Văn D, Nguyễn Thị Ngh và Trần Thị L bị giữ lại. Tổ công tác thu giữ trên chiếu bạc 01 (một) bộ bài tú lơ khơ 52 quân và số tiền 80.000 đồng (tám mươi nghìn đồng); thu giữ tại vị trí ngồi trên chiếu bạc của Trần Thị L số tiền 80.000 đồng (tám mươi nghìn đồng); thu giữ tại vị trí ngồi trên chiếu bạc của Nguyễn Thị Ngh số tiền 80.000 đồng (tám mươi nghìn đồng), tại túi quần trước bên phải của Nguyễn Thị Ngh số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng); thu giữ tại vị trí ngồi trên chiếu bạc của Phan Văn D số tiền 450.000 đồng (bốn trăm năm mươi nghìn đồng), tại túi áo ngực bên trái của Phan Văn D số tiền 3.600.000 đồng (ba triệu sáu trăm nghìn đồng). Tổng số tiền thu giữ là 4.590.000 đồng (bốn triệu năm trăm chín mươi nghìn đồng), bao gồm số tiền thu giữ tại khu vực trên chiếu bạc là 690.000 đồng (sáu trăm chín mươi nghìn đồng), trên người các đối tượng là 3.900.000 đồng (ba triệu chín trăm nghìn đồng). Tổ công tác tiến hành lập biên bản sự việc, đưa người và vật chứng về trụ sở làm việc. Cùng ngày, Nguyễn Thị D đến Công an thị xã H M xin đầu thú, khai nhận về hành vi phạm tội của mình và giao nộp số tiền 95.000 (chín mươi lăm nghìn đồng).

Quá trình điều tra chứng minh được số tiền các đối tượng sử dụng đánh bạc như sau: Nguyễn Thị D mang theo và sử dụng số tiền là 105.000 đồng (một trăm linh năm nghìn đồng) để đánh bạc, khi bỏ chạy cầm theo số tiền 95.000 đồng (chín mươi lăm nghìn đồng); Phan Văn D mang theo số tiền 4.030.000 đồng (bốn triệu không trăm ba mươi nghìn đồng), sử dụng 430.000 đồng (bốn trăm ba mươi nghìn đồng) để đánh bạc, còn số tiền 3.600.000 đồng (ba triệu sáu trăm nghìn đồng) không dùng đánh bạc; Nguyễn Thị Ngh mang theo số tiền 450.000 đồng (bốn trăm năm mươi nghìn đồng), sử dụng 150.000 đồng (một trăm năm mươi nghìn đồng) để đánh bạc, còn số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) không dùng đánh bạc; Trần Thị L mang theo và sử dụng số tiền 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng) để đánh bạc. Tổng số tiền Nguyễn Thị D, Phan Văn D, Nguyễn Thị Ngh và Trần Thị L sử dụng vào mục đích đánh bạc là 785.000 đồng (bảy trăm tám mươi lăm nghìn đồng).

Qua xác minh, Nguyễn Thị D đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc chưa hết thời hạn được xem là chưa bị xử lý hành chính.

Tại bản cáo trạng số 80/CT-VKSHM ngày 04/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã H M, tỉnh N A đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị D về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận giữ nguyên quan điểm truy tố sau khi phân tích đánh giá hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị D phạm tội “Đánh bạc”. Đề nghị: Áp dụng khoản 1 Điều 321, các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật hình sự năm 2015.

Đề nghị xử phạt Nguyễn Thị D từ 09 tháng đến 12 tháng cải tạo không giam giữ. Không khấu trừ thu nhập đối với bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ.

Về vật chứng: Đề nghị Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều

106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 785.000 đồng (bảy trăm tám mươi lăm

nghìn đồng).

Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) bộ bài tú lơ khơ 52 quân.

Đối với Phan Văn D, Nguyễn Thị Ngh và Trần Thị L đã thực hiện hành vi đánh bạc cùng với Nguyễn Thị D nhưng chưa bị xử phạt hành chính hoặc bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật hình sự. Vì vậy, Công an thị xã H M, tỉnh N A đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc là đúng quy định của pháp luật.

Đối với bà Phạm Thị Ch chủ nhà, khi bị cáo và các đối tượng đánh bạc tại

nhà thì bà không có mặt, không biết việc đánh bạc nên không phải chịu trách

nhiệm hình sự.

Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến gì với bản luận tội của Viện Kiểm sát và không có tranh luận gì. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra – Công an thị xã H M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã H M, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai của bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan tại phiên tòa cũng như trong quá trình điều tra hoàn toàn phù hợp về thời gian, địa điểm, quá trình thực hiện hành vi phạm tội, công cụ phương tiện tài sản phạm pháp, phù hợp với nội dung tài liệu vụ án. Nên có cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ 13 giờ đến 14 giờ 30 phút ngày 23/8/2022, tại nhà bà Phạm Thị Ch. Nguyễn Thị D có hành vi đánh bạc thắng thua bằng tiền bằng hình thức đánh bài “Phỏm” cùng Phan Văn D, Nguyễn Thị Ngh và Trần Thị L. Tổng số tiền bị cáo và các đối tượng sử dụng để đánh bạc là 785.000 đồng (bảy trăm tám mươi lăm nghìn đồng).

Khi thực hiện hanh vi phạm tội, bị cáo Nguyễn Thị D có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc làm của mình là vi phạm pháp luật nhưng do hám lợi bằng hình thức đánh bạc sát phạt nhau nên vẫn thực hiện Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai trước đây tại Cơ quan điều tra, lời khai người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Mặc dù số tiền đánh bạc dưới 5.000.000đ tuy nhiên bị cáo Nguyễn Thị D đang có tiền sự cùng về hành vi “ Đánh bạc”. Do đó có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Thị D phạm tội: “Đánh bạc”, tội phạm và khung hình phạt được quy định tại khoản 1 điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 như Cáo trạng đã quy kết là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Vụ án thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng xấu đến đạo đức lối sống và gây mất trật tự trị an trên địa bàn thị xã H M, là loại tội phạm làm nảy sinh nhiều loại tội phạm khác, hành vi của bị cáo gây nên sự bất bình trong xã hội, gây ra sự xáo trộn về đời sống sinh hoạt trong cộng đồng dân cư, gây mất trật tự an ninh chung. Vì vậy cần xử lý nghiêm để giáo dục đối với bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

Bị cáo Nguyễn Thị D khi thực hiện hành vi phạm tội đang có tiền sự về hành vi đánh bạc chưa hết thời hạn được xem là chưa bị xử lý hành chính. Ngoài ra bị cáo có 03 nhân thân xấu, ngày 30/01/2015, bị Công an phường Q P, thị xã H M xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc”. Ngày 17/11/2015, bị Công an phường Q P, thị xã H M xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc”. Ngày 24/8/2016, bị Công an phường Q P, thị xã H M xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc”. Đáng ra cần phải xử lý nghiêm đối với bị cáo. Tuy nhiên cũng xem xét cho bị cáo phạm tội khi có 01 tiền sự về hành vi đánh bạc nhưng đây là yếu tố để định tội đối với bị cáo. Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có các tình tiết giảm nhẹ là phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Đầu thú, được quy định tại các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo là phụ nữ, tuổi đã cao, sức khỏe yếu, có nơi cư trú rõ ràng, số tiền đánh bạc không lớn nên chưa cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo được cải tạo giáo dục tại địa phương. Tuy nhiên xét tính chất mức độ, hành vi cũng như nhân thân của bị cáo thì mức hình phạt áp dụng cần phải cao hơn mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát mới đủ nghiêm.

Xét thấy điều kiện hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo tuổi đã cao, sức khỏe yếu, thường xuyên ốm đau bệnh tật, không làm được việc gì nên không khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.

Về vật chứng: Đối với số tiền 785.000 đồng (bảy trăm tám mươi lăm nghìn đồng) bị cáo và những người liên quan dùng vào việc đánh bạc nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước. Đối với 01 (Một) bộ bài tú lơ khơ 52 quân đã qua sử dụng đây là công cụ phương tiện phạm tội có giá trị không đáng kể nên tịch thu tiêu hủy.

- Đối với số tiền 3.600.000 đồng (ba triệu sáu trăm nghìn đồng) thu giữ của Phan Văn D và số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) thu giữ của Nguyễn Thị Ngh, Dũng và Nghĩa không sử dụng để đánh bạc, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H M đã trả lại cho Dũng và Nghĩa là đúng quy định của pháp luật

Đối với anh Phan Văn D, chị Nguyễn Thị Ngh và chị Trần Thị L đã thực hiện hành vi đánh bạc cùng với Nguyễn Thị D nhưng chưa bị xử phạt hành chính hoặc bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật hình sự. Vì vậy, Công an thị xã H M, tỉnh N A đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc là đúng quy định của pháp luật.

Đối với bà Phạm Thị Ch chủ nhà, khi bị cáo và các đối tượng đánh bạc tại nhà thì bà không có mặt, không biết việc đánh bạc nên không phải chịu trách nhiệm hình sự.

Đối với người cháu tại nhà Phạm Thị Ch được Nguyễn Thị Ngh nhờ đi mua bộ bài tú khơ 52 quân, bị cáo và các đối tượng không rõ lai lịch nên đề nghị cơ quan CSĐT tiếp tục điều tra để xử lý sau.

Án phí: Bị cáo thuộc trường hợp người cao tuổi nên không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị D phạm tội “Đánh bạc”.

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt Nguyễn Thị D 15 (Mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ. Không khấu trừ thu nhập đối với bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ.

Thời hạn cải tạo không giam giữ của bị cáo Nguyễn Thị D được tính từ ngày Cơ quan tổ chức được giao giám sát bị cáo nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

Giao bị cáo Nguyễn Thị D cho UBND phường Q P, thị xã H M, tỉnh N A giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục.

Về vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 785.000 đồng (bảy trăm tám mươi lăm nghìn đồng) có tại tài khoản số 3949.0.90686883.00000 theo giấy nộp vào tài khoản tạm giữ của Công an thị xã H M tại Kho bạc Nhà nước thị xã H M, tỉnh N A vào ngày 29/8/2022.

Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) bộ bài tú lơ khơ 52 quân đã qua sử dụng có tại biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thị xã H M và Chi cục thi hành án dân sự thị xã H M ngày 04/10/2022.

Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điểm đ, khoản 1, điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ Ban Thường Vụ Quốc Hội miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nguyễn Thị D.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh N A.

Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

- VKSNDTX Hoàng Mai;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND tỉnh N A;

- Bị cáo;

- Người có quyền nghĩa vụ liên quan;

- Công an TX Hoàng Mai;

- Chi cục THADSTX Hoàng Mai;

- Sở tư pháp tỉnh N A;

Nguyễn Hữu Huy

- Lưu VP.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Các hội thẩm nhân dân

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Văn Bảy

Trần Thị Thanh Hương

Nguyễn Hữu Huy

Cỡ chữ