vanban.org

Bản án 84/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Việt Trì, tỉnh Phú Thọ Tuyên án 22/07/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn B phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xö ph¹t: Hoàng Văn B 12 (Mười hai) tháng tù . Bị cáo được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 07/4/2022 đến ngày 9/4/2022. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án. * Về hình phạt bổ sung: Tịch thu của bị cáo Hoàng Văn B01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen đã cũ có số IMEI 3550010902… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Văn biên phạm tội TTTPCMT - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn B phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ V
TỈNH PHÚ THỌ
----------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 84 /2022/HS-ST
Ngày 22/7/2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ V - TỈNH PHÚ THỌ

- Với hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Cẩm Vân

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Đức Thiện

2. Bà Lưu Thị Kim Thanh

- Thư ký phiên tòa:Bà Đỗ Hoàng Diệp - Thư kýTòa án nhân dân thành phố V, tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố V, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa:Bà Nguyễn Thu Trang - Kiểm sát viên

Ngày 22 tháng 7 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 78/2022/HS-ST ngày 5/7/2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 88/QĐXXST-HS ngày 8/7/2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Hoàng Văn B; sinh ngày: 30/8/1970 tại huyện C, tỉnh Phú Thọ; Giới tính: Nam; Đăng ký hộ khẩu thường trú:Khu Ô Đà, xã V, huyện C, tỉnh Phú Thọ;Chỗ ở hiện nay: Tổ 4, phố S, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Hoàng Văn B và con bà Nguyễn Thị H; Có vợ và không có con;Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo Hoàng Văn B bị bắt, tạm giữ từ ngày 07/4/2022 đến ngày 09/4/2022 được thay đổi biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 13 giờ 55 phút ngày 07/04/2022, tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy –Công an thành phố V làm nhiệm vụ tại khu vực thuộc tổ 4, phố Sông Thao, phường Thọ Sơn, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, phát hiện một người đàn ông có biểu hiện vi phạm pháp luật, tổ công tác yêu cầu kiểm tra người đàn ông khai nhận họ tên Hoàng Văn Bđồng thời B tự giác nhặt gói ma túy do lúc trước thấy tổ công tác B lo sợ nên đã thả gói ma túy đang cầm ở tay xuống đất chỗ B đang đứng và giao nộp cho cơ quan công an 01 (một) gói nilon màu xanh bên trong có chứa chất bột cục màu trắng. B khai nhận đây là túi ma tuý Heroin của B mục đích để sử dụng cho bản thân. Tại chỗ, tổ công tác đã lập B bản bắt người phạm tội quả tang đối với B, thu giữ và niêm phong túi ma tuý có đặc điểm như trên theo đúng quy định của pháp luật.Ngoài ra còn thu giữ đồ vật, tài sản của B gồm:01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen đã cũ có số IMEI 355001090263459, IMEI2 355001090263467 kèm 01 sim trong máy số 0942606113.

Ngày 07/4/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố V, tỉnh Phú Thọ ra Quyết định trưng cầu giám định đối với chất bột, cục màu trắng thu giữ của Hoàng Văn B. Tại bản Kết luận giám định số 464/KLGĐ ngày 09/04/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Phú Thọ kết luận:

“Chất bột, cục màu trắng chứa bên tronggói nilon thu giữ của Hoàng Văn B gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,244gam, loại Heroine”.

* Heroine là chất ma túy nằm trong danh mục I, số thứ tự: 09, Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính Phủ”.

Hoàn 0,111 gam chất bột, cục màu trắng cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định.

Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ khibắt quả tang, B khai nhận:

Do bản thân có nhu cầu sử dụng ma túy Heroin nên khoảng 13 giờ ngày 07/4/2022 B một mình đi xe khách từ thành phố V xuống khu vực gần nghĩa trang xã H, huyện V2, tỉnh Vĩnh Phúc để tìm mua ma túy. Tại đây B gặp, hỏi và mua được một người đàn ông khoảng 60 tuổi giới thiệu tên là Thắng (B không biết họ tên và địa chỉ cụ thể của Thắng) 01 gói ma túy có đặc điểm là 01 gói nilon màu xanh bên trong có chứa chất bột cục màu trắng là ma túy Heroin với giá 300.000 đồng. Sau đó người đàn ông bán ma túy cho B đi đâu, làm gì B không biết còn B cầm gói ma túy đi xe khách về thành phố V và về nhà trọ của Btại tổ 4, phố Sông Thao, phường Thọ Sơn, thành phố V, tỉnh Phú Thọ để sử dụng. Khi B đi đến khu vực gần cửa nhà trọ thì bị tổ công tác - Công an thành phố Vphát hiện, kiểm tra và bắt quả tang đối với B về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy như đã nêu trên.

Ngoài ra, B khai nhận trước đó vào ngày 06/4/2022 B có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy bằng hình thức tiêm trực tiếp vào cơ thể. Nguồn gốc ma túy do B mua của một người đàn ông không biết tên tuổi, địa chỉ ở đâu vào đầu tháng 4 năm 2022 tại khu vực xã B, huyện V2, tỉnh Vĩnh Phúc được 01 gói ma túy Heroin (không nhớ đặc điểm) với giá 300.000 đồng.

Tại B bản kiểm tra kết quả xét nghiệm ma túy bằng que thử nước tiểu ngày 07/04/2022 tại Công an thành phố V đối với B, kết quả: Dương tính với chất ma túy.

Tại bản cáo trạng số: 77/CT-VKS-VT ngày 04/7/2022 Viện kiểm sát nhân dân thành phố V đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân thành phố V để xét xử đối với bị cáo Hoàng Văn Bvề tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”quy định tạiđiểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố V giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng: Điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249,điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xö ph¹t: Hoàng Văn B từ 12 (Mười hai) đến 15 (Mười lăm) tháng tù.Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.

Hình phạt bổ sung: Đề nghị tịch thu của bị cáo B01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen đã cũ có số IMEI 355001090263459, IMEI2 355001090263467.

* Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Đề nghị tịch thu tiêu hủy01 bì niêm phong số 464/KLGĐ của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Phú Thọ chứa0,111 gam chất bột, cục màu trắng cùng toàn bộ bao gói gửi đến Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Phú Thọ hoàn trả lại sau giám định và 01 sim số 0942.606.113 trong chiếc điện thoại đã thu giữ của B.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo rất hối hận về hành vi vi phạm pháp luật của bị cáo, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo lấy đó làm bài học cho bản thân.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

. Về tố tụng:

Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố V, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng theo quy định của pháp luật.

.Đánh giá các chứng cứ buộc tội đối với bị cáo:

Tại phiên tòa hôm nay, bÞ c¸o Hoàng Văn B ®· khai nhËn toàn bộhµnh vi ph¹m téi cña m×nh như néi dung bản cáo trạng đã nêu, thừa nhận nội dung cáo trạng tuy tố là đúng, không có gì oan sai. Lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra phù hợp với lời khai của người chứng kiến, B bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng, kết luận giám định của cơ quan giám định cũng như các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Hồi 13 giờ 55 phút ngày 07/04/2022 tại khu vực thuộc tổ 4, phố S, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, Hoàng Văn B có hành vi tàng trữ trái phép khối lượng 0,244gam, loại Heroine nhằm mục đích để sử dụngthì bị tổ công tác của đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy – Công an thành phố V, tỉnh Phú Thọ phát hiện, bắt quả tang và thu giữ vật chứng.

Do vậy, hành vi pha ̣m t ội của bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định ta ̣i điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

....

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.

. Về tính chất, mức đô ̣ hậu quả hành vi phạm tô ̣i của bị cáo:

Hành vi phạm t ội của bị cáo là nguy hi ểm cho xã hội, đã xâm pha ̣m đ ến chính sách đ ộc quyền quản lý ch ất ma túy của Nhà nư ớc, gây hậu quả nghiêm trọng, ảnh hưở ng xấu đến an ninh, trật tự và an toàn xã h ội ta ̣i đ ịa phương. Bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Bị cáo nhận thức rõ hành vi c ủa mình là vi pha ̣m pháp lu ật nhưng vẫn thực hiện nên bị cáo phải chịu hậu quả về hành vi vi phạm tội của mình.

. Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, bị cáo đã thành khẩn khai báo , tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm t ội của mình. Ngoài rabố đẻ của bị cáo được tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Hai nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về hình phạt:

- Hình pha ̣t chính: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm t ội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là tương xứng so với tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo. Do đó, cần thiết phải xử pha ̣t b ị cáo nghiêm khắc bằng hình pha ̣t tù , cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội do bị cáo gây ra mới có tác du ̣ng cải ta ̣o giáo du ̣c bị cáo và đấu tranh phòng ngừa tội pha ̣m.

- Hình ph¹t bæ sung: Theo quy ®Þnh t¹i kho¶n 5 §iÒu 249 Bé luËt h×nh sù th× bÞ c¸o cßn cã thÓ ph¶i chÞu h×nh ph¹t bæ sung lµ hình phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000đồng, cấm đảm nhiệm…hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Xét thấy bị cáo Hoàng Văn B không có tài sản riêng gì ngoài 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen đã cũ có số IMEI 355001090263459, IMEI2 355001090263467đã thu giữ của bị cáo nên cần tịch thu để sung vào ngân sách nhà nước.

. Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp:

Đối với 01 bì niêm phong số 464/KLGĐ của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Phú Thọ chứa0,111 gam chất bột, cục màu trắng cùng toàn bộ bao gói gửi đến Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Phú Thọ hoàn trả lại sau giám định là vật thuộc loại nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hànhcần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 sim trong máy điện thoại đã thu giữ của B số 0942.606.113 là vật không có giá trịcần tịch thu tiêu hủy.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy ngày 06/04/2022 của B, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố V đã chuyển Công an thành phố V ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với B với hình thức cảnh cáo là phù hợp.

Về nguồn gốc số ma túy:

Đối với người đàn ông bán ma túy cho B ngày 06/4/2022 B không biết tên tuổi, địa chỉ và người đàn ông bán ma túy cho B ngày 07/4/2022, do B chỉ biết tên là Thắng còn không biết rõ họ tên, địa chỉ cụ thể ở đâu; ngoài lời khai nhận của B thì không có tài liệu, chứng cứ chứng minh nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố V không đủ căn cứ để làm rõ và xử lý đối với người này là phù hợp.

. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

. Về quyền kháng cáo: Bị cáo thực hiện quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

V× c¸c lÏ trªn,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: Điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; Điểm s khoản 1, khoản 2Điều 51, Điều 38 Bộ Luật Hình sự.

1. Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn B phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xö ph¹t: Hoàng Văn B 12 (Mười hai) tháng tù . Bị cáo được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 07/4/2022 đến ngày 9/4/2022. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.

* Về hình phạt bổ sung: Tịch thu của bị cáo Hoàng Văn B01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen đã cũ có số IMEI 355001090263459, IMEI2 355001090263467.

2.Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy01 bì niêm phong số 464/KLGĐ của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Phú Thọ chứa0,111 gam chất bột, cục màu trắng cùng toàn bộ bao gói gửi đến Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Phú Thọ hoàn trả lại sau giám định và 01 sim số 0942.606.113 trong chiếc điện thoại đã thu giữ của Hoàng Văn B.

Vật chứng lµ ®å vËt được C¬ quan C¶nh s¸t ®iÒu tra – Công an thành phố V bµn giao cho Chi cục Thi hµnh ¸n d©n sù thành phốV theo biªn b¶n giao nhËn vËt chøng ngµy 05/ 7/2022.

3.Về án phí:Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Hoàng Văn B phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ