vanban.org

Bản án 84/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 19/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Nguyễn Trường K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: bị cáo Lê Nguyễn Trường K 02 (Hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt. Về vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Nguyễn Trường K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CAO LÃNH
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 84/2022/HS-ST
Ngày: 19-12-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Văn Phong.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Viết Thanh

2. Ông Nguyễn Phú Hữu

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Tuyết Nga - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Trần Minh Thắng và bà Nguyễn Thị Hà Thanh - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 12 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 85/2022/TLST-HS ngày 16 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 331/2022/QĐXXST-HS, ngày 30 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo:

Lê Nguyễn Trường K (Tên gọi khác: Không), sinh năm 1993, tại Đồng Tháp; Nơi thường trú: Ấp 2, xã S, huyện L, tỉnh Đồng Tháp. Chỗ ở hiện nay: Số 122 T, khóm 3, phường B, thành phố L, tỉnh Đồng Tháp; giới tính: nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông: Lê Văn Mười H, sinh năm: 1965; Con bà: Nguyễn Thị Hồng L; Gia đình có 02 anh em, bị cáo con lớn trong gia đình; Chưa có vợ, con; Tiền án: Không;Tiền sự: Ngày 22/6/2022, bị Công an thành phố Cao Lãnh xử phạt vi phạm hành chính về các hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 53/QĐ-XPHC. Mức tiền phạt là 5.000.000 đồng (chưa chấp hành đóng phạt).

- Nhân thân:

+ Ngày 18/10/2016, bị Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 18 tháng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

+ Ngày 02/3/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh xử phạt 02 năm tù về Tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo bản án số 08/2018/HS-ST, chấp hành xong ngày 26/7/2019.

Biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Bà Nguyễn Thị Hồng L, sinh năm 1963 (có mặt).

Địa chỉ: Số 122 T, khóm 3, phường B, thành phố L, tỉnh Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trên cơ sở kết quả điều tra đã xác định được như sau: Lê Nguyễn Trường K là người nghiện ma túy. Khoảng 17 giờ ngày 08/9/2022, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên K xin 200.000 đồng, mượn xe mô tô nhãn hiệu SH, màu trắng, biển số 66F1-879.20 của mẹ ruột là bà Nguyễn Thị Hồng L và nói là đi mua thức ăn. Sau đó, K một mình điều khiển xe đến xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ để mua ma túy với mục đích sử dụng. Khi đi K có đem theo ống kim tiêm để sử dụng ma túy. Khi đến xã Vĩnh Trinh, K rẽ vào một hẻm (không biết tên hẻm) thì thấy có một người phụ nữ đeo khẩu trang đứng ngoài đường. K đến gần nói “lấy cái 200” (nghĩa là K hỏi mua ma túy với số tiền 200.000 đồng) và người phụ nữ đó đồng ý bán. K đưa cho người phụ nữ 200.000 đồng, người này giao lại cho K một miếng giấy màu bạc được quấn lại, bên trong có ma túy (dạng chất bột màu trắng). K nhận và cất tép ma túy trong túi quần rồi điều khiển xe về thành phố Cao Lãnh. Khi chạy xe đến gần cầu Vàm Cống thì K dừng xe lại, lấy tép ma túy vừa mua chiết một ít cho vào trong ống kim tiêm, bơm nước lọc vô để pha loãng ma túy và trực tiếp tiêm vào tay. Sau đó, K quấn kín miếng giấy bạc chứa ma túy còn lại cất cùng ống kim tiêm vào túi quần rồi tiếp tục chạy xe về nhà. Vào 18 giờ 50 phút khi về đến nhà tại địa chỉ số 122 Nguyễn Văn Trỗi, Khóm 3, Phường 2, thành phố Cao Lãnh, K đậu xe và đang mở cửa vào nhà thì Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về hình sự, kinh tế, ma túy phối hợp với Công an Phường 2, thành phố Cao Lãnh kiểm tra, bắt quả tang và thu giữ tại hiện trường các vật chứng sau:

Tại vị trí dưới chân K có một miếng giấy bạc được quấn lại, bên trong chứa nhiều chất bột màu trắng. K khai nhận là ma túy vừa mua ở xã Vĩnh Trinh, để trong túi quần bị rách nên rơi xuống chân. Vật chứng được niêm phong trong bao thư màu trắng. Trên bao thư có đóng hình dấu tròn màu đỏ của “Công an Phường 2 – Công an thành phố Cao Lãnh” và chữ ký ghi họ tên Điều tra viên Nguyễn Phước Long, người chứng kiến Phạm Thị Bé Năm và người bị bắt Lê Nguyễn Trường K”.

Kết luận giám định số 774/KL-KTHS ngày 11/9/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Đồng Tháp, kết luận: chất bột màu trắng chứa trong một miếng giấy bạc, được niêm phong trong bao thư gửi đến giám định là chất ma túy, có khối lượng 0,156 gam, loại Heroine (là chất ma túy nằm trong danh mục I, số thứ tự 9, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ).

Kiểm tra trên người K phát hiện 01 ống kim tiêm đã qua sử dụng. Đây là công cụ K dùng để sử dụng ma túy. Kiểm tra xe mô tô, biển số 66F1-879.20, nhãn hiệu SH, màu trắng, đã qua sử dụng, không phát hiện thu giữ đồ vật, tài liệu gì. Qua điều tra xác định đây là tài sản hợp pháp của bà Nguyễn Thị Hồng L. Bà L không biết việc K mượn xe của mình để đi mua ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Lãnh đã trả lại chiếc xe nêu trên, bà L nhận lại xe và không yêu cầu gì khác.

Phiếu kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể ngày 08/9/2022 của Công an Phường 2, thành phố Cao Lãnh kết luận: Lê Nguyễn Trường K dương tính với chất ma túy Heroine.

Trong quá trình điều tra, bị can Lê Nguyễn Trường K thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung đã nêu trên phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể, lời khai người liên quan, vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác thu thập trong hồ sơ vụ án.

Tại Cáo trạng số 87/CT-VKS-TPCL, ngày 15 tháng 11 năm 2022 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh truy tố bị cáo Lê Nguyễn Trường K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Đại diện Viện kiểm sát nhân nhân thành phố Cao Lãnh giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo; đồng thời đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả, hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Căn cứ Điều 249 của Bộ luật hình sự đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Nguyễn Trường K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt: Bị cáo Lê Nguyễn Trường K với mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, Bị cáo Lê Nguyễn Trường K mua ma túy về sử dụng, không có thu lợi nhuận và bị cáo không có công việc ổn định nên không áp dụng khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự để xử phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử:

Tịch thu tiêu hủy: 01 ống kim tiêm, đã qua sử dụng và Chất ma túy còn lại sau giám định có khối lượng 0,126 gam, loại Heroine, được niêm phong trong phong bì dán kín lại, ghi ký hiệu niêm phong số: 810, ngày 08/9/2022. Trên phong bì có đóng dấu tròn màu đỏ của “Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Đồng Tháp” và các chữ ký ghi họ tên: Trương Minh Vũ, Bùi Văn Duẩn, Nguyễn Phước Long, Lê Nguyễn Trường K. (Hiện vật chứng đang được Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh quản lý).

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu SH, màu trắng, biển số 66F1-879.20 của mẹ ruột là bà Nguyễn Thị Hồng L đứng tên chủ sở hữu, K dùng làm phương tiện đi mua ma túy bà L không biết nên Cơ quan điều tra Công an thành phố Cao Lãnh đã tiến hành trao trả lại cho bà L là phù hợp.

Tại phiên tòa, bị cáo Lê Nguyễn Trường K thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng và luận tội của Viện Kiểm sát. Bị cáo không tranh luận gì với quan điểm luận tội của Đại diện Viện Kiểm Sát. Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Lê Nguyễn Trường K đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, cũng như nội dung bản Cáo trạng số 87/CT-VKS-TPCL, ngày 15 tháng 11 năm 2022 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh là đúng với hành vi của bị cáo. Bị cáo khai nhận khoảng 17 giờ ngày 08/9/2022, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên K đi đến xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ hỏi mua ma túy với số tiền 200.000 đồng của người phụ nữ mang khẩu trang không biết họ tên, địa chỉ. K nhận và cất tép ma túy trong túi quần rồi điều khiển xe về thành phố Cao Lãnh. Khi chạy xe đến gần cầu Vàm Cống thì K dừng xe lại, lấy tép ma túy vừa mua chiết một ít cho vào trong ống kim tiêm, bơm nước lọc vô để pha loãng ma túy và trực tiếp tiêm vào tay. Sau đó, K quấn kín miếng giấy bạc chứa ma túy còn lại cất cùng ống kim tiêm vào túi quần rồi tiếp tục chạy xe về nhà. Vào 18 giờ 50 phút khi về đến nhà tại địa chỉ số 122 Nguyễn Văn Trỗi, Khóm 3, Phường 2, thành phố Cao Lãnh tỉnh Đồng Tháp thì Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về hình sự, kinh tế, ma túy phối hợp với Công an Phường 2, thành phố Cao Lãnh tỉnh Đồng Tháp kiểm tra, bắt quả tang K có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Theo bản kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Đồng Tháp đã kết luận chất ma túy đã thu giữ của bị cáo là loại Heroine, có tổng khối lượng 0,156 gam.

Ngoài ra, bị cáo Lê Nguyễn Trường K là người đã bị xử phạt vi phạm hành chính về các hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 53/QĐ-XPHC. Mức tiền phạt là 5.000.000 đồng (chưa chấp hành đóng phạt).

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, bản kết luận giám định, lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố và phù hợp với lời khai của người làm chứng, vật chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Với những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Lê Nguyễn Trường K đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại Điều 249 của Bộ luật Hình sự, quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc một trong các quy định tại các điều 248, 250, 251 và 252 của bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.

...

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc ALR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;”

Xét về hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến việc quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây nguy hại đến nhiều mặt đối với đời sống xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an ở địa phương nơi xảy ra vụ án.

Khi thực hiện phạm tội phạm, bị cáo đã thành niên, có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bản thân bị cáo nhận thức rõ tác hại của việc sử dụng các chất ma túy là gây tổn hại đến thể chất, tinh thần của con người, nó cũng là nguyên nhân làm gia tăng các tệ nạn về ma túy trong xã hội và phát sinh các loại tội phạm khác trong khi toàn xã hội đang kiên quyết đấu tranh phòng, chống các tệ nạn và các tội phạm về ma túy. Đáng lý ra, bị cáo phải biết tránh xa các chất ma túy, nhưng ngược lại, vì muốn có ma túy sử dụng để thỏa mãn nhu cầu của cá nhân nên bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội như đã nêu trên. Bản thân bị cáo đã từng bị kết án nhiều lần và bị xử phạt vi phạm hành chính về các hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 53/QĐ-XPHC. Mức tiền phạt là 5.000.000 đồng (chưa chấp hành đóng phạt) nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội cho thấy sự xem thường pháp luật của bị cáo. Bị cáo nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện, chứng tỏ hành vi phạm tội của bị cáo là cố ý và tội phạm đã hoàn thành. Do đó, cần phải áp dụng mức hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để bị cáo có thời gian học tập, cải tạo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội sau này, đồng thời có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung trong xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Việc bị cáo mua ma túy là về sử dụng, không bán nên không thu lợi nhuận. Ngoài ra, bị cáo không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền là có căn cứ.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong giai đoạn điều tra, truy tố, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và gia đình bị cáo có công với cách mạng, cụ thể ông nội Nguyễn Văn T và bà nội Trương Thị N được tặng huân chương kháng chiến hạng ba; Ông ngoại Lê Văn Đ và bà ngoại Bùi Thị R được tặng huân chương kháng chiến hạng nhì, hạng ba; đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết này để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Một ống kim tiêm, đã qua sử dụng; Chất ma túy còn lại sau giám định có khối lượng 0,126 gam, loại Heroine, được niêm phong ghi ký hiệu niêm phong số: 810, ngày 08/9/2022 của phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Đồng Tháp là vật mà Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành và không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy. (Các vật chứng trên đang được Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh quản lý theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 15/11/2022)

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu SH, màu trắng, biển số 66F1-879.20 của mẹ ruột là bà Nguyễn Thị Hồng L đứng tên chủ sở hữu, K dung làm phương tiện đi mua ma túy bà L không biết nên Cơ quan điều tra Công an thành phố Cao Lãnh đã tiến hành trao trả lại cho bà L là phù hợp.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Đối với người bán ma túy mà bị cáo K đã liên lạc mua ma túy, không rõ nhân thân, địa chỉ nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý theo quy định pháp luật.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh về Điều luật áp dụng, tội danh và hình phạt và các vấn đề khác là có căn cứ và phù hợp nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo Lê Nguyễn Trường K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: bị cáo Lê Nguyễn Trường K 02 (Hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt.

2. Về vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy: Một ống kim tiêm đã qua sử dụng.

- Tịch thu tiêu hủy: Chất ma túy còn lại sau giám định có khối lượng 0,126 gam, loại Heroine, được niêm phong ghi ký hiệu niêm phong số: 810, ngày 08/9/2022 của phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Đồng Tháp.

(Các vật chứng trên đang được Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh quản lý theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 15/11/2022).

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Lê Nguyễn Trường K phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ