vanban.org

Bản án 84/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình Tuyên án 11/11/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bị cáo Đào Công T phạm tội: “Gá bạc”.

Các bị cáo Đinh Văn L, Vũ Văn Đ, Hứa Văn Q và Đinh Ngọc D phạm tội: “Đánh bạc”. Biện pháp tư pháp - Xử lý vật chứng - Tài sản tạm giữ: Áp dụng Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự; Điều 47 của Bộ luật Hình sự.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đánh Bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Bị cáo Đào Công T phạm tội: “Gá bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NHO QUAN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH NINH BÌNH
Bản án số: 84/2022/HS-ST
Ngày: 23 - 11 - 2022.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHO QUAN, TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Vũ Quang Chung.

Các hội thẩm nhân dân: ông Hà Quang Văn và ông Nguyễn Văn Phiếu.

- Thư ký phiên toà: ông Bùi Quang Trung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nho Quan tham gia phiên toà: ông Nguyễn Xuân Duy - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Nho Quan, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 76/2022/TLST- HS ngày 13 tháng 10 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 83/2022/QĐXXST - HS ngày 11 tháng 11 năm 2022 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Đinh Văn L sinh năm 1960, tại N, Ninh Bình; giới tính: Nam; nơi cư trú: phố T, thị trấn N, huyện N, tỉnh Ninh Bình; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 10/10; con ông: Đinh Văn Ă, con bà: Hứa Thị A (đều đã chết); vợ: Hoàng Thị L; có 03 con: con lớn nhất sinh năm 1987, con nhỏ nhất sinh năm 1997.

Tiền án: Tại Bản án số 57/2021/HSST ngày 24/6/2021 của Tòa án nhân dân huyện Nho Quan xử phạt Đinh Văn L 06 tháng tù về tội: “Đánh bạc”. Đến ngày 10/7/2021, Đinh Văn L chấp hành xong hình phạt tù.

Tiền sự: Không.

Lịch sử bản thân:

+ Tại bản án số 01/HSST ngày 21/01/1994 của Tòa án nhân dân huyện Nho Quan xử phạt Đinh Văn L 03 tháng tù cho hưởng án treo về tội: “Tổ chức đánh bạc”; phạt bổ sung 200.000 đồng; án phí hình sự sơ thẩm 50.000 đồng.

+ Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 01/XPHC ngày 30/01/2002 Đinh Văn L bị Công an huyện Nho Quan ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”;

+ Tại bản án số 26/2015/HSST ngày 04/6/2015 của Tòa án nhân dân huyện Nho Quan xử phạt Đinh Văn L 32.000.000 đồng về tội: “Đánh bạc”, án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 31/7/2022 đến ngày 09/8/2022, chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình; có mặt.

2. Họ và tên: Vũ Văn Đ sinh năm 1971, tại N, Ninh Bình; giới tính: Nam; nơi cư trú: Số nhà B, đường T, tổ H, khu phố B, phường TTH, quận M, thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Giám đốc Công ty TNHH sản xuất - xuất nhập khẩu và thương mại G và Giám đốc Công ty TNHH M Việt Nam; trình độ học vấn: 12/12; con ông: Vũ X, con bà: Hứa Thị M (đều đã chết); vợ: Đậu Thanh N; có 02 con: con lớn sinh năm 2001, con nhỏ sinh năm 2008.

Tiền án, tiền sự: Không.

Lịch sử bản thân: Tại bản án số 95/2019/HSST ngày 19/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện Nho Quan xử phạt Vũ Văn Đ 21.000.000 đồng về tội: “Đánh bạc”, án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng. Vũ Văn Đ đã chấp hành xong.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 31/7/2022 đến ngày 09/8/2022, chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình. Đến ngày 30/9/2022, được thay thế biện pháp tạm giam bằng biện pháp ngăn chặn cho Bảo lĩnh; có mặt.

3. Họ và tên: Hứa Văn Q sinh năm 1966, tại N, Ninh Bình; giới tính: Nam; nơi cư trú: thôn Đ, xã SL, huyện N, tỉnh Ninh Bình; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 7/10; con ông: Hứa Văn B, con bà: Nguyễn Thị V (đều đã chết); vợ: Lữ Thị G; có 02 con: con lớn sinh năm 1992, con nhỏ sinh năm 2000.

Tiền án, tiền sự: Không.

Lịch sử bản thân: Tại bản án số 95/2019/HSST ngày 19/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện Nho Quan xử phạt Hứa Văn Q 20.000.000 đồng về tội: “Đánh bạc”, án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng. Hứa Văn Q đã chấp hành xong.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 31/7/2022, đến ngày 09/8/2022, được hủy bỏ biện pháp tạm giữ và áp dụng bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt.

4. Họ và tên: Đinh Ngọc D sinh năm 1971, tại N, Ninh Bình; giới tính: Nam; nơi cư trú: thôn M, xã SL, huyện N, tỉnh Ninh Bình; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; con ông: Đinh Văn L, con bà: Phạm Thị T (đều đã chết); vợ: Trần Thị P; có 02 con: Con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 31/7/2022, đến ngày 09/8/2022, được hủy bỏ biện pháp tạm giữ và áp dụng bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt.

5. Họ và tên: Đào Công T sinh năm 1963, tại N, Ninh Bình; giới tính: Nam; nơi cư trú: thôn SX, xã QL, huyện N, tỉnh Ninh Bình; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Cán bộ Chi cục thuế khu vực N-G, Ninh Bình; là Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, hiện bị đình chỉ sinh hoạt đảng theo quyết định số: 47-QĐ/UBKTĐUK ngày 13/10/2022 của Ủy ban kiểm tra Đảng ủy khối Cơ quan và Doanh nghiệp tỉnh Ninh Bình; trình độ học vấn: 10/10; con ông: Đào Đình X, con bà: Nguyễn Thị L (đều đã chết); vợ: Phạm Thị Bích Y, có 01 con, sinh năm 1991; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt.

* Người làm chứng: ông Phạm Thanh B, bà Hoàng Thị L, ông Đinh Văn  và bà Phạm Thị Bích Y; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sáng ngày 31/7/2022, Đinh Văn L một mình đến quán bán nước của Đào Công T ở thôn SX, xã QL, huyện N, tỉnh Ninh Bình để uống cà phê. Một lúc sau thì Vũ Văn Đ và Hứa Văn Q đi cùng nhau đến quán nước nhà T thì gặp Đinh Văn L. Do quen biết với L nên Đ và Q vào ngồi cùng bàn với L để uống cà phê. Sau đó Vũ Văn Đ sử dụng điện thoại của mình gọi điện cho Đinh Ngọc D để mời D đến quán nhà T uống cà phê cùng với Đ thì D đồng ý. Đến khoảng 09 giờ 30 phút cùng ngày khi biết L, Đ, Q, D đang ngồi uống nước nói chuyện thì Đào Công T là chủ nhà đã tự ý lấy ra 02 bộ bài tú lơ khơ mỗi bộ 52 quân, đều ký hiệu từ A đến K có sẵn để ở bàn uống nước trong phòng khách nhà T với mục đích để cho L, Đ, Q, D đánh bạc với nhau sẽ thu “tiền hồ” của những người đánh bạc nhằm thu lời bất chính.

Sau khi thấy Đào Công T mang ra 02 bộ bài tú lơ khơ để xuống nền phòng khách, cách vị trí bàn cà phê mà L, Đ, Q, D ngồi trước đó khoảng 02 mét thì Đinh Văn L, Hứa Văn Q, Vũ Văn Đ, Đinh Ngọc D hiểu ý của T nên L, Đ, Q, D đã cùng nhau ngồi xuống nền phòng khách nhà Đào Công T rồi lấy và sử dụng 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân ký hiệu từ A đến K để đánh bạc. Lúc này L, Đ, Q, D cùng thống nhất với nhau là đánh bạc bằng hình thức “đánh phỏm” được thua bằng tiền với mức cá cược trong mỗi ván thấp nhất là 100.000 đồng và cao nhất là 500.000 đồng. Trong khi L, Q, Đ, D đánh bạc thì Đào Công T ngồi tại vị trí giữa vị trí D và Đ ngồi để xem mọi người đánh bạc, đồng thời trong khi mọi người đánh bạc thì T đã thu của L, Đ, Q, D mỗi người số tiền 100.000 đồng (tổng thu được 400.000 đồng). T xác định tổng số tiền 400.000 đồng mà T đã thu của L, Đ, Q, D là “tiền hồ” tức là tiền của L, Q, Đ, D trả cho T vì T đã chuẩn bị 02 bộ bộ tú lơ khơ, phục vụ nước chè khô, thuốc lá, cà phê trong suốt quá trình những người trên tham gia đánh bạc với nhau tại nhà T. Đến khoảng 10 giờ 40 phút cùng ngày, khi Đinh Văn L, Hứa Văn Q, Vũ Văn Đ, Đinh Ngọc D đang ngồi đánh bạc với nhau tại nền phòng khách nhà Đào Công T thì bị Tổ công tác Công an huyện Nho Quan làm nhiệm vụ tuần tra phát hiện.

Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Đinh Văn L, Vũ Văn Đ, Hứa Văn Q, Đinh Ngọc D. Đồng thời thu giữ tại nền phòng khách của gia đình Đào Công T là vị trí mà Đinh Văn L, Hứa Văn Q, Vũ Văn Đ, Đinh Ngọc D đang ngồi đánh bạc cùng nhau với tổng số tiền là 22.700.000 đồng; 02 bộ bài tú lơ khơ (mỗi bộ 52 quân đều ký hiệu từ A đến K); 01 ví da màu đen của Vũ Văn Đ.

Ngoài ra Tổ công tác còn thu giữ trên người của những người đánh bạc, cụ thể: thu giữ trên người của Đinh Văn L số tiền 6.900.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY A9 2018 vỏ màu vàng hồng, lắp sim số thuê bao 0962.516.828 và 0916.396.628; thu giữ trên người của Đinh Ngọc D 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE12 PRO MAX vỏ màu xanh, lắp sim số thuê bao 0823.649.988 và 0974.272.046; thu giữ trên người của Vũ Văn Đ 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 12 PRO MAX vỏ màu trắng, lắp sim số thuê bao 0903.328.868; thu giữ trên người của Hứa Văn Q số tiền 1.000.000đ và 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 7 PLUS vỏ màu vàng, lắp sim số thuê bao 0989.380.928; thu giữ trên người của Đào Công T 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 7 vỏ màu đen, lắp sim số thuê bao 0983.263.164.

Quá trình điều tra L, D, Đ, Q và T đã khai nhận số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc và gá bạc cụ thể như sau:

- Đinh Văn L khai nhận mang theo tổng số tiền 9.200.000 đồng, quá trình đánh bạc L chỉ sử dụng số tiền 2.300.000 đồng vào mục đích đánh bạc, còn lại số tiền 6.900.000 đồng L không sử dụng vào mục đích đánh bạc (L khai số tiền 6.900.000 đồng là tiền của anh trai L là ông Đinh Văn  sinh năm 1950 trú tại thôn S, xã SL, huyện N đưa cho L vào tối ngày 30/7/2022 để sắm đồ chuẩn bị làm cỗ vào ngày giỗ bố đẻ của L là ông Đinh Văn Ă). Khi bị bắt, Tổ công tác đã thu giữ dưới nền nhà trước mặt L số tiền 2.300.000 đồng, thu giữ trên người của L số tiền 6.900.000 đồng. Khi bị bắt quả tang L không thắng, không thua.

- Đinh Ngọc D khai nhận mang theo tổng số tiền 7.400.000 đồng và sử dụng hết tiền số tiền trên vào mục đích đánh bạc. Khi bị bắt thu giữ dưới nền nhà trước mặt D số tiền 8.000.000 đồng. Khi bị bắt quả tang D đang thắng được số tiền 600.000 đồng.

- Vũ Văn Đ khai nhận mang theo tổng số tiền 11.500.000 đồng và sử dụng hết tiền trên vào mục đích đánh bạc. Khi đánh bạc Đ để tiền trong ví giả da màu đen và để ví dưới nền nhà trước mặt Đ. Khi bị bắt thu giữ trong ví giả da màu đen dưới nền nhà trước mặt Đ số tiền 9.000.000 đồng. Khi bị bắt quả tang Đ đang bị thua số tiền 2.500.000 đồng.

- Hứa Văn Q khai nhận mang theo tổng số tiền 2.500.000 đồng và sử dụng hết tiền trên vào mục đích đánh bạc. Khi bị bắt thu giữ dưới nền nhà trước mặt Q số tiền 3.000.000 đồng và thu giữ trên người Q số tiền 1.000.000 đồng. Khi bị bắt quả tang Q đang thắng bạc số tiền 1.500.000 đồng.

- Đào Công T khai nhận số tiền gá bạc 400.000 đồng mà Tổ công tác thu giữ dưới nền phòng khách trước mặt T là tiền mà T vừa thu của L, Đ, Q, D mỗi người số tiền 100.000 đồng (tổng 400.000 đồng) để T chuẩn bị bài tú lơ khơ và phục vụ nước chè khô, thuốc lá, cà phê trong quá trình L, Đ, Q, D đánh bạc tại nhà T.

Về vật chứng và tài sản liên quan của vụ án:

Đối với tổng số tiền 23.700.000 đồng (gồm 22.700.000 đồng thu tại nền nhà trước mặt của L, Đ, Q, D, T và 1.000.000 đồng thu trong người của Hứa Văn Q); 02 bộ bài tú lơ khơ, mỗi bộ 52 quân (đều ký hiệu từ A đến K); 01 ví da màu đen của Vũ Văn Đ; Số tiền 6.900.000 đồng thu giữ trên người của Đinh Văn L; 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY A9 2018 vỏ màu vàng hồng, lắp sim số thuê bao 0962.516.828 và 0916.396.628 thu giữ của Đinh Văn L; 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE12 PRO MAX vỏ màu xanh, lắp sim số thuê bao 0823.649.988 và 0974.272.046 thu giữ của Đinh Ngọc D; 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 12 PRO MAX vỏ màu trắng, lắp sim số thuê bao 0903.328.868 thu giữ của Vũ Văn Đ; 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 7 PLUS vỏ màu vàng, lắp sim số thuê bao 0989.380.928 thu giữ trên của Hứa Văn Q; 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 7 vỏ màu đen, lắp sim số thuê bao 0983.263.164 thu giữ của Đào Công T. Viện kiểm sát nhân dân huyện Nho Quan đã ra Quyết định chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nho Quan chờ xử lý theo quy định của pháp luật.

Tại bản cáo trạng số 81/CT-VKSNQ-HS ngày 11/10/2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nho Quan truy tố Đinh Văn L, Vũ Văn Đ, Hứa Văn Q, Đinh Ngọc D về tội: "Đánh bạc" theo quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự. Đào Công T về tội: "Gá bạc" theo quy định tại điểm c, khoản 1, khoản 3 Điều 322 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên tham gia phiên toà giữ nguyên quan điểm truy tố tại bản cáo trạng số 81/CT-VKSNQ-HS ngày 11/10/2022 và đề nghị Hội đồng xét xử:

* Áp dụng:

- Khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đinh Văn L từ 09 đến 12 tháng tù về Tội đánh bạc. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ từ ngày 31/7/2022. Phạt bổ sung từ 15 triệu đồng đến 20 triệu đồng.

- Khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt: bị cáo Vũ Văn Đ từ 18 đến 21 tháng cải tạo không giam giữ về Tội đánh bạc, thời hạn tính từ ngày Uỷ ban nhân dân phường TTH, quận M, thành phố Hồ Chí Minh nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án, được trừ thời gian đã tạm giữ, tạm giam, từ 31/7/2022 đến 30/9/2022. Khấu trừ thu nhập từ 10% đến 15% trong thời gian cải tạo không giam giữ, sung ngân sách Nhà nước. Giao bị cáo cho phường TTH, quận M, thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương giám sát, giáo dục. Phạt bổ sung từ 15 triệu đồng đến 20 triệu đồng.

- Khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt: bị cáo Hứa Văn Q từ 18 đến 21 tháng cải tạo không giam giữ về Tội đánh bạc, thời hạn tính từ ngày Uỷ ban nhân dân xã SL, huyện N, tỉnh Ninh Bình nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án được trừ thời gian đã tạm giữ từ 31/7/2022 đến ngày 09/8/2022. Khấu trừ thu nhập từ 10% đến 15% trong thời gian cải tạo không giam giữ, sung ngân sách Nhà nước. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã SL, huyện N, tỉnh Ninh Bình giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương giám sát, giáo dục. Phạt bổ sung từ 15 triệu đồng đến 20 triệu đồng.

- Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt: bị cáo Đinh Ngọc D từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng về Tội đánh bạc.

- Điểm c khoản 1, khoản 3 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đào Công T từ 60.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng về Tội gá bạc.

* Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự; Điều 47 của Bộ luật Hình sự.

- Tịch thu, sung ngân sách nhà nước số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc là 23.700.000 đồng.

- Trả lại cho:

+ Vũ Văn Đ 01 ví da màu đen và 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 12 PRO MAX vỏ màu trắng, lắp sim số thuê bao 0903.328.868.

+ Đinh Văn L số tiền 6.900.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY A9 2018 vỏ màu vàng hồng, lắp sim số thuê bao 0962.516.828 và 0916.396.628.

+ Hứa Văn Q 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 7 PLUS vỏ màu vàng, lắp sim số thuê bao 0989.380.928.

+ Đinh Ngọc D 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE12 PRO MAX vỏ màu xanh, lắp sim số thuê bao 0823.649.988 và 0974.272.046.

+ Đào Công T 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 7 vỏ màu đen, lắp sim số thuê bao 0983.263.164.

- Tịch thu, tiêu hủy: 02 bộ bài tú lơ khơ 52 quân các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc và vỏ phong bì niêm phong điện thoại.

* Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc các bị cáo Vũ Văn Đ, Hứa Văn Q, Đinh Ngọc D và Đào Công T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho Đinh Văn L.

Tại phiên tòa, các bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi vi phạm của bản thân. Các bị cáo không có tranh luận gì với luận tội của Đại diện Viện kiểm sát; trong lời nói sau cùng các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa các bị cáo Đinh Văn L, Vũ Văn Đ, Hứa Văn Q, Đinh Ngọc D và Đào Công T đã khai nhận toàn bộ hành vi vi phạm của mình. Các bị cáo khai nhận: Do có mối quan hệ quen biết, nên khi thấy bị cáo Đào Công T là chủ nhà mang 02 bộ bài tú lơ khơ ra đặt trên nền nhà phòng khách, các bị cáo Đinh Văn L, Vũ Văn Đ, Hứa Văn Q và Đinh Ngọc D hiểu ý nhau và cùng ngồi xuống nền nhà phòng khách của gia đình Đào Công T để đánh bài được thua bằng tiền, bằng hình thức đánh “Phỏm”. Tổng số tiền các bị cáo sử dụng vào việc Đánh bạc và Gá bạc là 23.700.000 đồng (trong đó tiền các bị cáo dùng đánh bài là 23.300.000 đồng và 400.000 đồng bị cáo T thu tiền hồ). Hành vi phạm tội của các bị cáo như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nho Quan đã truy tố. Lời khai giữa các bị cáo tại tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai người làm chứng; vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra, xem xét tại phiên toà.

Từ các chứng cứ nêu trên đủ căn cứ kết luận: Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 31/7/2022, tại gian phòng khách của gia đình Đào Công T ở thôn SX, xã QL, huyện N, tỉnh Ninh Bình. Đinh Văn L, Vũ Văn Đ, Hứa Văn Q, Đinh Ngọc D có hành vi đánh bạc với nhau bằng hình thức “Đánh Phỏm” được thua bằng tiền với tổng số tiền mà L, Đ, Q, D sử dụng để đánh bạc với nhau là 23.300.000 đồng. Đào Công T đã thu “tiền hồ” của L, Đ, Q, D số tiền là 400.000 đồng. Các bị cáo đang đánh bạc thì bị lực lượng Công an huyện Nho Quan phát hiện bắt quả tang.

- Theo quy định tại Điều 321 của Bộ luật Hình sự:

“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2...

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.”

Hành vi của các bị cáo Đinh Văn L, Vũ Văn Đ, Hứa Văn Q và Đinh Ngọc D đã cấu thành tội: “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

- Điều 322 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc trái phép thuộc một trong các trường hợp sau, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a, ...

c, Tổng số tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc trong cùng 01 lần có giá trị 20.000.000 đồng trở lên;

2...

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”

Như vậy, hành vi của bị cáo Đào Công T đã cấu thành tội: “Gá bạc”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c, khoản 1, khoản 3 Điều 322 của Bộ luật Hình sự.

Cáo trạng, lời luận tội, các chứng cứ buộc tội các bị cáo của Kiểm sát viên trình bày tại phiên toà là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi của các bị cáo Đinh Văn L, Vũ Văn Đ, Hứa Văn Q, Đinh Ngọc D và Đào Công T đã xâm hại đến trật tự công cộng là khách thể được luật hình sự bảo vệ. Cả năm bị cáo đều có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi, việc làm của mình bị pháp luật cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện.

Ngoài xâm hại đến khách thể được luật hình sự bảo vệ, hành vi của các bị cáo còn là nguyên nhân phát sinh của nhiều loại tội phạm khác, gây mất an ninh trật tự, ảnh hưởng xấu đến đời sống xã hội. Từ việc tổ chức đánh bạc, đánh bạc đã dẫn đến tiêu tán tài sản, kiệt quệ kinh tế của nhiều cá nhân và gia đình. Để bảo vệ trật tự xã hội, có tác dụng giáo dục đối với các bị cáo và phòng ngừa chung thì việc truy tố, đưa ra xét xử và buộc các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự như đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát là cần thiết. Trong vụ án có nhiều bị cáo tham gia, song không mang tính tổ chức mà đồng phạm tính chất giản đơn. Vai trò của các bị cáo là gần ngang nhau. Bị cáo T là người chủ động mang bài ra để các bị cáo khác đánh bạc. Do đó, bị cáo T có vai trò chính trong vụ án.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: các bị cáo Vũ Văn Đ, Hứa Văn Q, Đinh Ngọc D và Đào Công T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Đối với Đinh Văn L, có tiền án chưa được xóa án tích nay lại phạm tội do cố ý, thuộc trường hợp tái phạm là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

+ Các bị cáo Đinh Văn L, Vũ Văn Đ, Hứa Văn Q, Đinh Ngọc D và Đào Công T,quá trình điều tra và tại phiên tòa khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội là tình tiết giam nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo Đinh Ngọc D phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

+ Các bị cáo Đinh Văn L, Hứa Văn Q, Vũ Văn Đ và Đào Công T có bố đẻ được tặng thưởng Huân, Huy chương kháng chiến. Bị cáo Hứa Văn Q còn có mẹ đẻ được tặng thưởng Huy chương kháng chiến. Bà nội bị cáo Đào Công T là bà Phạm Thị Nùng được truy tặng danh hiệu “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”. Bị cáo Đinh Văn L, tuổi cao, sức khỏe yếu. Là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[4] Về hình phạt: Căn cứ quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, động cơ phạm tội của từng bị cáo, hình phạt áp dụng với từng bị cáo cụ thể:

- Đối với Đào Công T là chủ quán cafe, khi thấy các bị cáo L, Đ, Q và D đến uống cafe, bị cáo cố tình mang 02 bộ bài tú lơ khơ, để cho các bị cáo chơi bài tại nhà mình để thu 400.000 đồng tiền hồ, số tiền các bị cáo sử dụng đánh bạc là 23.300.000 đồng. Xét về nhân thân bị cáo có nhân thân tốt, vì muốn tăng thêm thu nhập, nhất thời phạm tội; chỉ cần áp dụng hình phạt chính là phạt tiền đối với bị cáo, cũng đủ điều kiện để bị cáo tự cải tạo, trở thành công dân tốt.

- Đối với bị cáo Đinh Văn L, bản thân bị cáo đã bị đưa đi giáo dục cải tạo nhiều lần về hành vi đánh bạc, song bị cáo vẫn không phục thiện, khi có cơ hội bị cáo vẫn cố tình vi phạm, cần áp dụng hình phạt chính là hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo, có như vậy mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo từ bỏ cờ bạc, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật. Cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

- Các bị cáo Vũ Văn Đ và Hứa Văn Q, bản thân các bị cáo cũng đã từng bị xử lý về hành vi đánh bạc, song các bị cáo vẫn không chịu tu dưỡng rèn luyện, khi có điều kiện là vi phạm pháp luật. Số tiền bị cáo Đ tham gia đánh bạc nhiều hơn so với bị cáo Q (11.500.000 đồng /2.500.000 đồng), hình phạt áp dụng đối với Đ cao hơn so với Q. Tuy nhiên, xét các bị cáo có nơi ở rõ ràng, ổn định, không áp dụng hình phạt tù đối với các bị cáo, cho các bị cáo cải tạo tại địa phương, dưới sự giám sát của chính quyền địa phương, khấu trừ một phần thu nhập trong thời gian cải tạo, cũng đủ điều kiện để giáo dục, cải tạo các bị cáo. Cần áp dụng thêm hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

- Đối với Đinh Ngọc D khi được Vũ Văn Đ điện thoại rủ ra quán uống cafe thì đồng ý ngay và cùng tham gia đánh bạc. Số tiền bị cáo sử dụng đánh bạc nhiều hơn so với Q. Xét về nhân thân, bị cáo D có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Chỉ cần áp dụng hình phạt chính là phạt tiền đối với bị cáo, cũng đủ điều kiện để giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt.

[5] Về xử lý vật chứng - Tài sản tạm giữ:

- Đối với 02 bộ bài tú lơ khơ 52 quân là phương tiện phạm tội; số phong bì niêm phong điện thoại thu giữ của các bị cáo không còn giá trị sử dụng, nên tịch thu, tiêu hủy.

- Đối với số tiền thu tại chiếu bạc là 23.700.000 đồng, các bị cáo dùng để đánh bạc, gá bạc cần tịch thu, sung ngân sách Nhà nước.

- Đối với số tài sản thu của các bị cáo gồm: 01 ví da thu của bị cáo Đ, số tiền 6.900.000 đồng thu của bị cáo L và điện thoại di động thu giữ của các bị cáo, không liên quan gì đến việc phạm tội, cần trả lại cho các bị cáo. Trả lại cho:

+ Vũ Văn Đ 01 ví da màu đen và 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 12 PRO MAX vỏ màu trắng, lắp sim số thuê bao 0903.328.868.

+ Đinh Văn L số tiền 6.900.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY A9 2018 vỏ màu vàng hồng, lắp sim số thuê bao 0962.516.828 và 0916.396.628.

+ Hứa Văn Q 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 7 PLUS vỏ màu vàng, lắp sim số thuê bao 0989.380.928.

+ Đinh Ngọc D 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE12 PRO MAX vỏ màu xanh, lắp sim số thuê bao 0823.649.988 và 0974.272.046.

+ Đào Công T 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 7 vỏ màu đen, lắp sim số thuê bao 0983.263.164.

[6] Về án phí: Các bị cáo Vũ Văn Đ, Hứa Văn Q, Đinh Ngọc D và Đào Công T, phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Đinh Văn L, do L trên 60 tuổi.

[7] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Nho Quan, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Nho Quan, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố:

- Bị cáo Đào Công T phạm tội: “Gá bạc”.

- Các bị cáo Đinh Văn L, Vũ Văn Đ, Hứa Văn Q và Đinh Ngọc D phạm tội: “Đánh bạc”.

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt: bị cáo Đào Công T 60.000.000 đồng (Sáu mươi triệu đồng).

- Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đinh Văn L 08 (Tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 31/7/2022. Phạt bổ sung 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng).

- Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt: bị cáo Vũ Văn Đ 21(Hai mươi mốt) tháng cải tạo không giam giữ, được trừ thời gian đã tạm giữ, tạm giam, từ 31/7/2022 đến 30/9/2022 là 62 ngày, quy đổi thành 06 tháng 02 ngày cải tạo không giam giữ. Thời gian còn phải chấp hành là 14 tháng 28 ngày cải tạo không giam giữ. Thời hạn tính từ ngày Uỷ ban nhân dân phường TTH, quận M, thành phố Hồ Chí Minh nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Khấu trừ thu nhập 15% trong thời gian cải tạo không giam giữ, sung ngân sách Nhà nước. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường TTH, quận M, thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương giám sát, giáo dục. Phạt bổ sung 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng).

- Khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt: bị cáo Hứa Văn Q 18 (Mười tám) tháng cải tạo không giam giữ, được trừ thời gian tạm giữ từ 31/7/2022 đến 09/8/2022 là 09 ngày, quy đổi thành 27 ngày cải tạo không giam giữ. Thời gian còn phải chấp hành là 17 tháng 03 ngày. Thời hạn tính từ ngày Uỷ ban nhân dân xã SL, huyện N, tỉnh Ninh Bình nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Khấu trừ thu nhập 10% trong thời gian cải tạo không giam giữ, sung ngân sách Nhà nước. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã SL, huyện N, tỉnh Ninh Bình giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương giám sát, giáo dục. Phạt bổ sung 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng).

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt: bị cáo Đinh Ngọc D 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng).

2. Biện pháp tư pháp - Xử lý vật chứng - Tài sản tạm giữ: Áp dụng Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự; Điều 47 của Bộ luật Hình sự.

- Tịch thu, sung ngân sách nhà nước số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc là 23.700.000 đồng.

- Trả lại cho:

+ Vũ Văn Đ 01 ví da màu đen và 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 12 PRO MAX vỏ màu trắng, lắp sim số thuê bao 0903.328.868.

+ Đinh Văn L số tiền 6.900.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY A9 2018 vỏ màu vàng hồng, lắp sim số thuê bao 0962.516.828 và 0916.396.628.

+ Hứa Văn Q 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 7 PLUS vỏ màu vàng, lắp sim số thuê bao 0989.380.928.

+ Đinh Ngọc D 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE12 PRO MAX vỏ màu xanh, lắp sim số thuê bao 0823.649.988 và 0974.272.046.

+ Đào Công T 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 7 vỏ màu đen, lắp sim số thuê bao 0983.263.164.

- Tịch thu tiêu hủy: 02 bộ bài tú lơ khơ 52 quân các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc và các vỏ phong bì niêm phong điện thoại thu giữ của các bị cáo.

Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Nho Quan và Chi cục thi hành án dân sự huyện Nho Quan lập ngày 13/10/2022; Ủy nhiệm chi giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Nho Quan và Chi cục thi hành án dân sự huyện Nho Quan lập ngày 21/10/2022.

3. Về án phí: áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm d khoản 1 Điều 12; điểm a, khoản 1, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Buộc các bị cáo Vũ Văn Đ, Hứa Văn Q, Đinh Ngọc D và Đào Công T phải nộp án phí hình sự sơ thẩm mỗi bị cáo 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng). Miễn án phí sơ thẩm hình sự cho bị cáo Đinh Văn L.

Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án (23/11/2022).

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định của Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ