vanban.org

Bản án 84/2022/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 30/08/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 30/08/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Âu Thị Thu Q phạm tội “ Đánh bạc”.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Âu Thị Thu Q phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm. Các quyết định khác của bản á… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Âu Thị Thu Q phạm tội Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Âu Thị Thu Q phạm tội “ Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 84/2022/HS-PT
Ngày: 30 - 8 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN

- THnh phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Ích Yên.

- Các thẩm phán: 1. Ông Đặng Minh Tuân

2. Ông Trần Khánh Hồng

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Mai Loan - Thƣ ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Thu Huyền, chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 8 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên, xét xử phúc thẩm vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 48/2022/TLPT-HS ngày 04/7/2022 do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 16/2022/HSST ngày 23/5/2022 của Tòa án nhân dân huyện VN, tỉnh Thái Nguyên.

* Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Âu Thị Thu Q; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ; Sinh ngày: 31 tháng 01 năm 1985; Nơi cƣ trú: xóm CT, xã LH, huyện VN, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: 12/12; chức vụ trƣớc khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; con ông Âu Văn P, sinh năm 1959 và con bà Hoàng Thị N1, sinh năm 1960; gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ 01; Chồng: Hang Y, sinh năm 1972; Con: Có 01 con, sinh năm 2015.

- Tiền án; Tiền sự: Không.

Nhân thân: Tại quyết định số 0102895 ngày 12/8/2020 bị Công an xã LH xử phạt vi phạm Hnh chính 1.500.000 đồng về Hnh vi Đánh bạc. Đã chấp Hnh xong ngày 16/11/2020.

- Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 10/01/2022 đến ngày 18/01/2022. Hiện áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cƣ trú (vắng mặt không có lý do).

Trong vụ án này còn có các bị cáo Vũ Văn S, Lâm Thị H, Lƣu Văn N, Nguyễn Mạnh D có đơn kháng cáo. Trƣớc khi mở phiên tòa các bị cáo trên đã rút toàn bộ kháng cáo; các bị cáo không bị kháng nghị, vắng mặt do Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Hồi 14 giờ 00 phút ngày 10/01/2022 Công an huyện VN đang thực hiện nhiệm vụ tuần tra kiểm soát đảm bảo an ninh trật tự tại khu vực xóm CT, xã LH, huyện VN, tỉnh Thái Nguyên thì nhận đƣợc tin báo của quần chúng nhân dân cung cấp tại nH Vũ Văn S, sinh năm 1984, địa chỉ: xóm CT, xã LH, huyện VN, tỉnh Thái Nguyên có một số đối tƣợng tụ tập đánh bạc trái phép. Công an huyện VN đã tHnh lập tổ công tác phối hợp với Công an xã LH đến xác minh nguồn tin trên đã phát hiện bắt quả tang 06 đối tƣợng đang có Hnh vi đánh bạc trái phép bằng hình thức đánh xóc đĩa đƣợc thua bằng tiền Ngân Hng NH nƣớc Việt Nam tại gian nH chính tầng 2 nH sàn của Vũ Văn S gồm: Vũ Văn S chủ nH; Nguyễn Mạnh D, sinh năm 1996, nơi cƣ trú: xóm ĐT, xã QS, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên; Âu Thị Thu Q, sinh năm 1985, Lƣu Văn N, sinh năm 1965; Lâm Thị H, sinh năm 1988 (là vợ của Vũ Văn S); Nguyễn Văn H1, sinh năm 1987, đều cƣ trú tại xóm CT, xã LH, huyện VN, tỉnh Thái Nguyên.

Thu giữ trên chiếu bạc gồm: số tiền 6.700.000 đồng tiền Ngân Hng NH nƣớc Việt Nam niêm phong gửi giám định ký hiệu H1; 01 bát sứ màu trắng có hoa văn, có chữ “HẢI DƢƠNG VIỆT NAM”, 01 đĩa sứ màu trắng có chữ “BT”; 04 quân vị bằng tre một mặt màu đen, một mặt để mộc; 01 thảm xốp có họa tiết, màu sắc khác nhau, kích thƣớc 1,6 x 2 mét.

Thu giữ trên ngƣời Vũ Văn S số tiền 130.000 đồng tại túi quần phía sau bên phải niêm phong gửi giám định ký hiệu H2, 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen, 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO màu trắng xanh tại túi quần phía trƣớc bên trái; Nguyễn Mạnh D số tiền 1.200.000 đồng tại túi quần phía trƣớc bên phải, 20.000 đồng tại túi quần phía sau bên phải niêm phong gửi giám định ký hiệu H3, 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG màu đen tại túi quần phía trƣớc bên trái; Âu Thị Thu Q số tiền 600.000 đồng tại túi quần phía trƣớc bên phải, 580.000 đồng tại túi áo mặt trong áo khoác niêm phong gửi giám định ký hiệu H4, 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh-đen tại túi quần phía trƣớc bên trái; Lƣu Văn N số tiền 900.000 đồng tại túi quần phía trƣớc bên phải, 600.000 đồng tại túi quần phía trƣớc bên trái, 18.012.000 đồng tại túi mặt trong áo khoác niêm phong gửi giám định ký hiệu H5, 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu tím tại túi quần phía trƣớc bên phải; Lâm Thị H số tiền 19.400.000 đồng tại túi mặt trong áo khoác niêm phong gửi giám định ký hiệu H6, 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO màu xanh đen tại túi quần phía trƣớc bên trái; Nguyễn Văn H1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme tại túi áo khoác.

Quá trình điều tra phân loại đối tƣợng ngày 10/01/2022 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện VN đã trả tự do đối với Nguyễn Văn H1 do không tham gia đánh bạc.

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm các bị cáo đã khai nhận: Do quen biết nhau nên các đối tƣợng Lƣu Văn N, Nguyễn Mạnh D, Âu Thị Thu Q đã đến nH Vũ Văn S có vợ là Lâm Thị H chơi và đánh bạc tại đó nhiều lần. Buổi sáng 10/01/2022 H gọi điện nói chuyện với N và hẹn nhau buổi chiều đến nhà H đánh bạc. Khoảng 13 giờ cùng ngày khi Sáng đi làm H đã gọi điện bảo Sáng đi về nhà, sau đó H gọi điện cho D hẹn đến nhà H đánh bạc. Khoảng 30 phút sau D, N đến nhà H, lúc sau Q đƣa con đi học cũng vào nhà H chơi. Các đối tƣợng ngồi nói chuyện tại gầm sàn nhà, sau đó cùng rủ nhau đánh bạc tại nhà H bằng hình thức đánh xóc đĩa đƣợc thua bằng tiền Ngân Hàng NH nƣớc Việt Nam. S sử dụng dao cắt 04 quân bài bằng tre bôi đen một mặt, một mặt để mộc, N đi vào trong bếp lấy ra 01 bát sứ, 01 đĩa sứ làm dụng cụ đánh bạc. Sau đó các đối tƣợng đi lên tầng 2 nhà sàn của H ngồi tại một thảm xốp có nhiều họa tiết, hoa văn để bắt đầu đánh bạc. Những ngƣời tham gia đánh bạc gồm: Vũ Văn S, Lƣu Văn N, Nguyễn Mạnh D, Âu Thị Thu Q, Lâm Thị H. Các đối tƣợng đã thống nhất cách thức đánh bạc nhƣ sau: Bên tay phải của ngƣời xóc cái là cửa chẵn, bên trái của ngƣời sóc cái là cửa lẻ. Bắt đầu ván bạc ngƣời xóc cái đặt 04 quân vị vào đĩa, úp bát lên rồi xóc mạnh sau đó đặt bát đĩa xuống, ngƣời tham gia đánh bạc đặt tiền vào cửa chẵn, cửa lẻ tùy ý. Sau khi đặt xong tiền ngƣời xóc cái mở bát xem kết quả ván bạc. Nếu 04 quân vị lật 04 mặt trắng, 04 mặt đen hoặc 02 mặt trắng, 02 mặt đen là cửa chẵn thắng. Nếu 04 quân vị lật 03 mặt trắng, 01 mặt đen hoặc 03 mặt đen, 01 mặt trắng là cửa lẻ thắng. Ngƣời đặt số tiền ở cửa thắng đƣợc nhận gấp đôi số tiền đã đặt và tự nhặt tiền lên hoặc do nhà cái thanh toán, ngƣời thua bị mất số tiền đã đặt do nhà cái thu sau khi đã bù trừ cho ngƣời thắng bạc, sau đó tiếp tục chơi ván bạc mới.

Vũ Văn S là ngƣời xóc cái, khi đánh bạc S là ngƣời nhận tiền của bên thua trả cho bên thắng, nếu bên thắng có số tiền đặt ít hơn bên cửa thua thì sau khi trả cho bên thắng, số tiền còn lại S sẽ nhận. Nếu bên thắng có số tiền đặt cao hơn bên thua thì S lấy tiền bên thua trả cho bên thắng, sau đó bù tiền của mình để trả đủ cho bên thắng. Khi đánh bạc S có khoảng 1.500.000 đồng. Khi bị bắt S còn lại 130.000 đồng là tiền đang dùng đánh bạc cầm ở tay đã cất giữ trên ngƣời sau đó đã bị tạm giữ; Lâm Thị H trƣớc khi đánh bạc H có khoảng 20.000.000 đồng đã bỏ ra 550.000 đồng đánh bạc, số còn lại H cất vào túi bên trái phía ngoài của áo khoác đang mặc, không dùng vào mục đích đánh bạc. H đặt 03 ván, ván đầu đặt 50.000 đồng vào cửa chẵn và thắng, ván thứ hai đặt 100.000 đồng cửa chẵn bị thua, ván cuối đặt 100.000 đồng vào cửa chẵn nhƣng chƣa biết kết quả thì thấy cơ quan Công an đến, H hoảng sợ nên ném toàn bộ số tiền đang dùng đánh bạc xuống chiếu bạc; Nguyễn Mạnh D, khi tham gia đánh bạc D có khoảng 3.000.000 đồng, đã bỏ ra khoảng 2.000.000 đồng để đánh bạc, số còn lại gồm 1.200.000 đồng cất vào túi quần trƣớc bên phải và 20.000 đồng cất vào túi quần sau bên phải để nếu thua hết số tiền đã bỏ ra đánh bạc sẽ lấy ra đánh bạc tiếp. D đặt tiền đánh bạc nhiều ván vào hai bên chẵn, lẻ, mỗi ván đặt từ 50.000 đồng đến 100.000 đồng. Khi đang đánh thấy cơ quan Công an đến D đã bỏ toàn bộ số tiền đang đánh bạc xuống chiếu bạc; Lƣu Văn N là ngƣời lấy bát, đĩa để đánh bạc. Khi đánh bạc N có khoảng 20.000.000 đồng, đã cất 18.012.000 đồng cất vào túi áo không dùng vào mục đích đánh bạc. Số còn lại 900.000 đồng N để túi quần bên phải, khoảng 500.000 đồng vào túi quần bên trái, cầm ở tay 650.000 đồng để đánh bạc. N dự định sẽ sử dụng hết số tiền cất trong túi quần vào cầm ở tay vào mục đích đánh bạc nếu thua hết sẽ về. N đánh nhiều ván vào cửa lẻ, chắn, số tiền đặt từ 50.000 đồng đến 100.000 đồng. Khi thắng tiền N cất vào trong túi quần phía trƣớc bên trái. Khi cơ quan Công an đến N đã để hết toàn bộ số tiền đang dùng đánh bạc cầm ở tay xuống chiếu bạc; Âu Thị Thu Q khi đánh bạc có khoảng 2.900.000 đồng, đã sử dụng số tiền khoảng hơn 1.000.000 đồng để đánh bạc, số còn lại gồm 600.000 đồng cất vào túi quần bên phải, 580.000 đồng cất vào túi ở mặt trong vạt áo khoác bên trái để tiếp tục sử dụng đánh bạc khi bị thua hết số tiền đã bỏ ra trƣớc đó. Q đặt tiền đánh bạc nhiều ván vào hai bên chẵn, lẻ. Khi đang đánh bạc thấy cơ quan Công an đến Q đã bỏ toàn bộ số tiền đang dùng đánh bạc xuống chiếu bạc. Số tiền cất giữ trên ngƣời đã bị tạm giữ.

Các đối tƣợng tham gia đánh bạc đến khoảng 14 giờ 15 phút cùng ngày các đối tƣợng bị tổ công tác Công an huyện VN phát hiện bắt quả tang. Vật chứng thu trên chiếu bạc là 6.700.000 đồng tiền Ngân Hàng nhà nƣớc Việt Nam và một số tài sản khác, số tiền thu trên ngƣời các đối tƣợng khi bắt quả tang là 41.442.000 đồng. Quá trình điều tra Vũ Văn S khai số tiền dùng vào mục đích đánh bạc là 130.000 đồng; Nguyễn Mạnh D dùng số tiền vào mục đích đánh bạc là 1.220.000 đồng; Lƣu Văn N dùng số tiền vào mục đích đánh bạc là 1.500.000 đồng; Âu Thị Thu Q dùng số tiền vào mục đích đánh bạc là 1.180.000 đồng. Nhƣ vậy tổng số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc là 10.730.000 đồng.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 16/2022/HS-ST ngày 23/5/2022 Tòa án nhân dân huyện VN xét xử sơ thẩm, quyết định:

Tuyên bố: Các bị cáo Vũ Văn S; Lâm Thị H; Nguyễn Mạnh D; Lƣu Văn N, Âu Thị Thu Q phạm tội “ Đánh bạc”.

Căn cứ: Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 BLHS; xử phạt bị cáo Vũ Văn S 15 ( mƣời lăm) tháng tù. Thời gian thụ hình đƣợc tính từ ngày thi hành án.

Căn cứ: Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 BLHS; xử phạt bị cáo Lâm Thị H 15 ( mƣời lăm) tháng tù. Thời gian thụ hình đƣợc tính từ ngày thi hành án.

Căn cứ: Khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51;Điều 17; Điều 38; Điều 58 BLHS; xử phạt bị cáo Lƣu Văn N 12 ( mƣời hai) tháng tù. Thời gian thụ hình đƣợc tính từ ngày thi hành án và đƣợc trừ thời gian tạm giữ từ ngày 10/01/2022 đến ngày 18/01/2022.

Căn cứ: Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51;Điều 17; Điều 38; Điều 58 BLHS; xử phạt: Bị cáo Nguyễn Mạnh D 12 ( mƣời hai) tháng tù. Thời gian thụ hình đƣợc tính từ ngày thi hành án và đƣợc trừ thời gian tạm giữ từ ngày 10/01/2022 đến ngày 18/01/2022.

Căn cứ: Khoản 1 Điều 321; điểm i, s, v khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 BLHS; xử phạt bị cáo Âu Thị Thu Q 10 ( mƣời tháng) tháng tù.Thời gian thụ hình đƣợc tính từ ngày thi hành án và đƣợc trừ thời gian tạm giữ từ ngày 10/01/2022 đến ngày 18/01/2022.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.

Ngày 27/5/2022 bị cáo Lƣu Văn N và bị cáo Âu Thị Thu Q kháng cáo; ngày 01/6/2022 bị cáo Vũ Văn S và bị cáo Lâm Thị H kháng cáo; ngày 06/6/2022 bị cáo Nguyễn Mạnh D kháng cáo. Các bị cáo đều kháng cáo xin hƣởng án treo.

Ngày 29/8/2022, các bị cáo Vũ Văn S, Lâm Thị H, Lƣu Văn N, Nguyễn Mạnh D có đơn xin rút toàn bộ kháng cáo, Tòa án đã ra thông báo về việc rút kháng cáo theo quy định tại Điều 338, Điều 342 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Âu Thị Thu Q vắng mặt không có lý do dù đã đƣợc Tòa án triệu tập hợp lệ. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 351 Bộ luật tố tụng hình sự, xét xử vắng mặt bị cáo Q.

Quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Âu Thị Thu Q. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 16/2022/HSST ngày 23/5/2022 của Tòa án nhân dân huyện VN, tỉnh Thái Nguyên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của các bị cáo Vũ Văn S, Lâm Thị H, Lƣu Văn N, Nguyễn Mạnh D, Âu Thị Thu Q đƣợc làm trong hạn luật định là hợp lệ.

Trƣớc khi mở phiên tòa phúc thẩm, ngày 29/8/2022, các bị cáo Vũ Văn S, Lâm Thị H, Lƣu Văn N, Nguyễn Mạnh D có đơn xin rút toàn bộ kháng cáo, Tòa án đã ra thông báo về việc rút kháng cáo theo quy định tại Điều 338, Điều 342 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Âu Thị Thu Q vắng mặt lần thứ 2 mặc dù đã đƣợc Tòa án tống đạt hợp lệ. Sau khi nghe ý kiến của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử đã thảo luận và quyết định: căn cứ Điều 351 Bộ luật tố tụng hình sự, xét xử vắng mặt bị cáo Q.

. Về nội dung: Mặc dù tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Âu Thị Thu Q vắng mặt nhƣng qua xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và xét lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và phiên tòa sơ thẩm là khách quan, phù hợp với lời khai của các bị cáo khác, vật chứng thu đƣợc và các chứng cứ tài liệu khác đƣợc thu thập hợp lệ có trong hồ sơ vụ án. Nhƣ vậy đã có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 14 giờ 15 phút ngày 10/01/2022 tại nH ở của Vũ Văn S và Lâm Thị H thuộc xóm CT, xã LH, huyện VN, tỉnh Thái Nguyên. Tổ công tác Công an huyện VN, tỉnh Thái Nguyên phát hiện bắt quả tang Vũ Văn S, Lâm Thị H, Nguyễn Mạnh D, Lƣu Văn N, Âu Thị Thu Q đang đánh bạc bằng hình thức sóc đĩa, vật chứng thu trên chiếu bạc là 6.700.000 đồng tiền Ngân hàng nhà nƣớc Việt Nam và một số tài sản khác, số tiền thu trên ngƣời các đối tƣợng khi bắt quả tang là 41.442.000 đồng. Quá trình điều tra Vũ Văn S khai số tiền dùng vào mục đích đánh bạc là 130.000 đồng; Nguyễn Mạnh D dùng số tiền vào mục đích đánh bạc là 1.220.000 đồng; Lƣu Văn N dùng số tiền vào mục đích đánh bạc là 1.500.000 đồng; Âu Thị Thu Q dùng số tiền vào mục đích đánh bạc là 1.180.000 đồng. Nhƣ vậy tổng số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc là 10.730.000 đồng.

Với hành vi trên, Tòa án nhân dân huyện VN đã xét xử bị cáo Âu Thị Thu Q tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

. ét kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý công cộng, gây mất trật tự trị an tại địa phƣơng, tệ nạn cờ bạc trong tỉnh Thái Nguyên nói chung, tại địa bàn huyện VN nói riêng đang có chiều hƣớng gia tăng và là nguyên nhân gây tan vỡ nhiều gia đình, phát sinh nhiều mâu thu n, nhiều loại tội phạm khác. Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá tính chất vụ án, vai trò, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đã áp dụng đúng và đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, mức án đã tuyên là phù hợp, đủ tác dụng răn đe và phòng ngừa chung nên cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.

ét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa hôm nay là có căn cứ. Hội đồng xét xử chấp nhận lời đề nghị nêu trên.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Kháng cáo của bị cáo không đƣợc chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Âu Thị Thu Q, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 16/2022/HS-ST ngày 23/5/2022 của Tòa án nhân dân huyện VN, tỉnh Thái Nguyên.

1. Tuyên bố: Bị cáo Âu Thị Thu Q phạm tội “ Đánh bạc”.

Căn cứ: Khoản 1 Điều 321; điểm i, s, v khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 BLHS; xử phạt bị cáo Âu Thị Thu Q 10 ( mƣời tháng) tháng tù.Thời hạn chấp hành hình phạt tù đƣợc tính từ ngày thi hành án và đƣợc trừ thời gian tạm giữ từ ngày 10/01/2022 đến ngày 18/01/2022.

2. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Âu Thị Thu Q phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PH C THẨM

- VKSND tỉnh Thái Nguyên;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Sở tƣ pháp tỉnh Thái Nguyên;

Đã ký

- VKSND huyện VN;

- TAND huyện VN;

- Công an huyện VN;

- THADS huyện VN;

- Các bị cáo;

- Lƣu Hồ sơ vụ án.

Nguyễn Ích Yên THNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Minh Tuân

Đ Anh Dân

Trần Thị NHi

Cỡ chữ