- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ánh T về “Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung” đối với ông Trần Triệu P.
- Căn cứ chính? Luật hôn nhân gia đình và các văn bản khác hướng dẫn; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 84/2022/HNGĐ-ST Ngày: 13-4-2022 Về việc tranh chấp ly hôn và nuôi con chung. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Đỗ Bình An
Các Hội thẩm nhân dân: ông La Văn Việt;
bà Trần Thị Đổi.
.
Thư ký phiên tòa: bà Đỗ Thị Như Ý - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
Ngày 13 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An. Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số: 16/2022/TLST-HNGĐ, ngày 12 tháng 01 năm 2022 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 62/2022/QĐXXST-HNGĐ, ngày 10 tháng 3 năm 2022 và Quyết đinh hoãn phiên tòa số 37/2022/QĐST-HNGĐ ngày 22 tháng 3 năm 2022 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: bà Nguyễn Thị Ánh T, sinh năm 1990
Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp.
2. Bị đơn: ông Trần Triệu P, sinh năm 1992
Địa chỉ: ấp N 2, xã Đ, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
(bà T xin vắng mặt, ông P vắng mặt – đã triệu tập hợp lệ)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 10/01/2022 và những lời khai tiếp theo của bà Nguyễn Thị Ánh T trình bày như sau:
Bà và ông Trần Triệu P chung sống với nhau vào năm 2012, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp vào ngày 03/4/2013. Vợ chồng chung sống hạnh phúc cho đến thời gian gần đây thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, thường xuyên cải vã nên bà và ông P ly thân nhau từ thời gian đó cho đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn và cũng không thể hàn gắn nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với ông Trần Triệu P.
Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: bà T xác định có 01 con chung tên Trần Anh H, sinh ngày 02/8/2013. Khi ly hôn bà T xin được tiếp tục nuôi dưỡng và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: bà T xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại văn bản ngày 17/02/2022, con chung của bà T và ông P là Trần Anh H có nguyện vọng sống với bà T khi bà T và ông P ly hôn với nhau.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa có thông báo cho ông P biết về yêu cầu khởi kiện của bà T nhưng ông P không có ý kiến phản hồi, Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa đã tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng ông P cũng không đến Tòa án nên không tiến hành hòa giải được mà đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
.Về tố tụng:
. Về thẩm quyền và quan hệ pháp luật cần giải quyết: xét yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ánh T nêu trên, Hội đồng xét xử thấy rằng quan hệ pháp luật cần giải quyết trong vụ án là “Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung” được quy định tại Điều 28, Điều 29 và Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn ông Trần Triệu P có hộ khẩu thường trú tại xã Đ, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An nên căn cứ Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
. Về tư cách tố tụng, thời hiệu và phạm vi giải quyết:
Bà Nguyễn Thị Ánh T khởi kiện yêu cầu xin được ly hôn với ông Trần Triệu P nên bà T được xác định là nguyên đơn, ông P là bị đơn. Vụ án hôn nhân gia đình không xác định thời hiệu. Tòa án chỉ giải quyết vụ án trong phạm vi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
1.3]. Về xét xử vắng mặt: bà Nguyễn Thị Ánh T có đơn xin xét xử vắng mặt, ông Trần Triệu P vắng mặt lần thứ 2 không có lý do nên căn cứ vào khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà T và ông P.
. Về chứng cứ, nghĩa vụ chứng minh và luật áp dụng:
Bà Nguyễn Thị Ánh T có cung cấp cho Tòa án giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 14/2013 ngày 03/4/2013 được đăng ký tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp nên hôn nhân giữa bà Tvà ông P là hôn nhân hợp pháp theo quy định Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình.
Pháp luật được áp dụng giải quyết là Bộ luật tố tụng dân sự, Luật hôn nhân gia đình và các văn bản khác hướng dẫn về giải quyết vụ án hôn nhân gia đình.
. Về nội dung vụ án:
[2.1.] Về tình trạng hôn nhân: xét hôn nhân giữa bà T và ông P trên cơ sở tự nguyện, bà T xác định cuộc sống hôn nhân có hạnh phúc nhưng về sau thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, bà và ông P đã ly thân nhau từ thời gian đó cho đến nay nên bà T xin được ly hôn với ông P. Đối với ông P, ông không có ý kiến phản hồi về việc bà T xin ly hôn với ông, tại thời điểm bà T xin ly với ông P thì giữa ông và bà T vẫn còn ly thân với nhau, điều này chứng tỏ quan hệ hôn nhân giữa hai bên đã lâm vào tình trạng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Điều 56 của Luật hôn nhân gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà T được được ly hôn với ông P.
[2.2.] Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: bà T xác định có 01 con chung là Trần Anh H, sinh ngày 02/8/2013. Thấy rằng con chung Trần Anh H có nguyện vọng sống với bà T khi bà T và ông P ly hôn với nhau. Mặt khác từ khi bà T và ông P ly thân nhau cho đến nay cháu H do bà T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và vẫn đảm bảo sự phát triển bình thường cho cháu H. Đối với ông P thì ông không có ý kiến phản hồi về việc bà T xin được nuôi chung là Anh H. Do đó, để đảm bảo quyền lợi và sự phát triển ổn định của con chung, Hội đồng xét xử thấy rằng cần giao con chung tên Trần Anh H cho bà T tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, bà T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.3.] Về tài sản chung và nợ chung: bà T xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập xem xét.
Trường hợp sau này các bên có tranh chấp thay đổi nuôi con chung, mức cấp dưỡng nuôi con, chia tài sản chung và nợ chung thì có quyền khởi kiện bằng vụ án khác.
. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: bà Nguyễn Thị Ánh T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 9, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 85 và Điều 86 của Luật hôn nhân gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ánh T về “Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung” đối với ông Trần Triệu P.
Về hôn nhân: bà Nguyễn Thị Ánh T được ly hôn với ông Trần Triệu P.
Về con chung và cấp dưỡng nuôi con chung: bà Nguyễn Thị Ánh T được trực tiếp nuôi con chung là Trần Anh H, sinh ngày 02/8/2013 (bà T đang nuôi dưỡng). Ông Trần Triệu P không phải cấp dưỡng nuôi con chung do bà T không có yêu cầu.
Ông P được quyền tới lui thăm non và chăm sóc con chung, không ai được quyền ngăn cản, khi cần thiết các bên có thể xin thay đổi tình trạng nuôi con và khoản cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: bà T xác định không có.
Về nợ chung: bà T xác định không có.
2. Về án phí: bà Nguyễn Thị Ánh T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sung vào công quỹ Nhà nước nhưng được khấu trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0009465 ngày 10/01/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hoà, tỉnh Long An để thi hành. Bà T không phải nộp tiếp.
3. Án xét xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.
4. Trường hợp bản án hoặc quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án là 05 năm theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Long An. - Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa - Uỷ ban nhân dân xã T, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp; - Đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Đỗ Bình An |