vanban.org

Bản án 84/2021/HSST — Hình sự

TAND huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận Tuyên án 16/07/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 07 (bảy) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày 23 tháng 02 năm 2021. Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 1.000.000 đồng và trả cho bị cáo Nguyễn Văn T 1.000.000 đồng trong số tiền 2.000.000 đồng tại biên lai thu số 0002866, ngày 17 tháng 6 năm 2021 của Chi cục thi hành án dân… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN N DÂN
HUYỆN TP
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 84/2021/HSST
Ngày 16-7-2021

N DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN N DÂN HUYỆN TP, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Hoàn Kiếm

Các Hội thẩm N dân:

1. Bà Nguyễn Thị Bích Lam

2. Bà Trần Thị Ngọc Linh

- Thư ký phiên tòa: Ông Hán Tấn Tiến, Thư ký Tòa án N dân huyện TP

- Đại diện Viện kiểm sát N dân huyện TP tham gia phiên tòa: Ông Trương Vĩnh Vinh, Kiểm sát viên.

Trong ngày 16 tháng 7 năm 2021, tại trụ sở Tòa án N dân huyện TP xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 66/2021/TLST-HS, ngày 01 tháng 7 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 82/2021/QĐXXST-HS, ngày 02 tháng 7 năm 2021, đối với bị cáo:

Nguyễn Văn T, sinh ngày 24 tháng 8 năm 1992, tại tỉnh Phú Yên

Nơi đăng ký N khẩu thường trú: Khu phố 01, phường PL, thành phố TH, tỉnh Phú Yên

Chỗ ở hiện nay: Khu phố 7, thị trấn LH, huyện TP, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn TH và bà Nguyễn Thị Kim C; có vợ đã ly hôn, con có 01 người sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: không; bị bắt từ ngày 23 tháng 02 năm 2021; có mặt.

Người làm chứng: Nguyễn Trần Hoàng D, Nguyễn Trọng N; đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Nguyễn Văn T, có hộ khẩu thường trú tại khu phố 1, phường PL, thành phố TH, tỉnh Phú Yên, vào ở trọ tại phòng trọ số 9, nhà trọ TP, thuộc khu phố 7, thị trấn LH, huyện TP, tỉnh Bình Thuận để làm bảo vệ cho Club 399 đường V, thuộc khu phố 5, thị trấn LH, huyện TP, tỉnh Bình Thuận. Trong thời gian làm bảo vệ T có quen biết với Nguyễn Trọng N nên lưu số điện thoại di động của nhau và T nhìn thấy có nhiều người trong Club 399 sử dụng ma túy dạng khay và kẹo. Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 13 tháng 02 năm 2021, T đi làm về đến khu vực giữ xe tại Club 399 thì nhặt được bọc nylon bên trong có ma túy dạng khay và kẹo, T biết rõ trong gói nylon chứa ma túy nhưng T vẫn mang về phòng trọ cất giấu nhằm mục đích bán cho người nghiện. Nguyễn Văn T đã bán ma túy cho Nguyễn Trọng N 3 lần thu lợi 1.000.000 đồng, cụ thể:

Lần 1: Khoảng 21 giờ ngày 18 tháng 02 năm 2021, khi T đang làm việc ở trước bãi giữ xe Club 399 thì N gọi điện thoại vào số thuê bao xxxxxxxxxx của T hỏi có biết ai bán ma túy không mua 500.000 đồng ma túy dạng khay. T bảo N đợi rồi T về nhà trọ lấy 01 gói ma túy dạng khay đến trước Club 399 đưa cho N lấy 500.000 đồng.

Lần 2: Khoảng 10 giờ 15 phút ngày 23 tháng 02 năm 2021, T đang ở nhà trọ thì N gọi điện thoại cho T hỏi mua 01 gói ma túy (hàng khay) với giá 1.000.000 đồng và hẹn gặp nhau tại quán cà phê MingHouse, thuộc khu phố 5 thị trấn LH, huyện TP. T đồng ý lấy 01 gói ma túy dạng khay đến nơi hẹn đưa cho N nhưng do không đủ tiền nên N chỉ đưa cho T 500.000 đồng còn nợ lại 500.000 đồng.

Lần 3: Khoảng 15 giờ 10 phút ngày 23 tháng 02 năm 2021, T đang ở nhà trọ thì N gọi điện thoại cho T hỏi mua 4.000.000 đồng ma túy và hẹn địa điểm giao nhận ma túy tại quán cà phê MingHouse. T đồng ý lấy 02 gói ma túy bỏ vào vỏ nylon bọc bao thuốc lá điều khiển xe mô tô hiệu Honda SH, màu đỏ, biển số 86B1-533.11 chở theo Nguyễn Trần Hoàng Dung là bạn giái của T đến bên hông quán cà phê MingHouse. T gọi điện thoại cho N ra lấy ma túy nhưng N vừa đi ra chưa kịp giao nhận ma túy thì tổ công tác Đồn Biên phòng Cửa khẩu cảng LH phát hiện bắt quả tang Nguyễn Văn T đang tàng trữ chất ma túy. Thu giữ trên tay phải của T đang cầm 01 gói nylon (dạng vỏ bao nylon gói thuốc lá) bên trong chứa 01 gói nylon kích thước 2,3cm x 2,3cm và 01 gói nylon kích thước 2,6cm x 2,0cm, bên trong 02 gói nylon chứa chất tinh thể màu trắng (được niêm phong trong phong bì ký hiệu số 01). Thu giữ trên người T 01 điện thoại hiệu Iphone 7 Plus màu hồng (được niêm phong trong phong bì ký hiệu số 02) và số tiền 7.000.000 đồng. Tại thời điểm bắt giữ T, N phát hiện Tổ công tác của Đồn Biên phòng Cửa khẩu cảng LH nên đã bỏ chạy.

Tiến hành khám xét nơi ở của Nguyễn Văn T tại phòng trọ số 9, nhà trọ TP, thuộc khu phố 7, thị trấn LH, huyện TP, tỉnh Bình Thuận, thu giữ trên kệ để đồ dùng trong phòng của T:

01 (một) gói nylon kích thước 5,5cm x 4,0cm bên trong có 04 (bốn) viên nén màu xanh Nguyễn Văn T khai nhận là ma túy thuốc lắc (được niêm phong trong phong bì ký hiệu số 03);

01 (một) hộp giấy màu trắng kích thước 14,5cm x 6,9cm x 03cm bên trong có 01 gói nylon loại vỏ bao nylon thuốc lá bên trong chứa 21 (hai mươi mốt) viên nén màu hồng và 01 (một) lọ nhựa loại đựng muối ớt xanh Tây Ninh, bên trong có 07 (bảy) viên nén màu hồng, Nguyễn Văn T khai là thuốc uống chữa bệnh của T (được niêm phong trong phong bì ký hiệu số 04);

- 12 (mười hai) gói nylon nhiều kích cỡ bên trong các gói nylon không có gì, 02 (hai) đoạn ống nhựa màu trắng sọc vàng dài khoảng 4,5cm được hàn kín một đầu bên trong không có gì (được niêm phong trong phong bì ký hiệu số 05);

Căn cứ bản kết luận giám định số 248/KLGĐ-PC09 ngày 26 tháng 02 năm 2021 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Bình Thuận kết luận:

+ Mẫu M1 (được niêm phong trong phong bì ký hiệu số 01) gửi giám định khối lượng 0,6231 gam; là Ketamine.

+ Mẫu M2 (được niêm phong trong phong bì ký hiệu số 03) gửi giám định khối lượng 1,4566 gam, là MDMA.

+ Mẫu M3 (được niêm phong trong phong bì ký hiệu số 04) gửi giám định khối lượng 2,8070 gam. Không tìm thấy thành phần các chất có trong danh mục chất ma túy và tiền chất được ban hành kèm theo Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2018 và Nghị định số 60/2020/NĐ-CP ngày 25 tháng 9 năm 2020 của Chính phủ.

Do có hai chất ma túy khác nhau nên tính tỷ lệ phần trăm về khối lượng của từng chất ma túy so với mức tối thiểu của từng chất ma túy như sau:

- Tỷ lệ phần trăm về khối lượng của Ketamine so với mức tối thiểu đối với Ketamine quy định tại điểm n khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự là 3,1155%.

- Tỷ lệ phần trăm về khối lượng của MDMA so với mức tối thiểu đối với MDMA quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự là 29,132%.

Tổng tỷ lệ phần trăm về khối lượng của cả hai chất Ketamine và MDMA là 3,1155% + 29,132% = 32.2475% (dưới 100%), cho nên người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự

Tại bản cáo trạng số: 89/CT-VKS-TP, ngày 01 tháng 7 năm 2021 của Viện kiểm sát N dân huyện TP đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Kiểm sát viên đề nghị: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 07 đến 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”

Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 46; điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 1.000.000 đồng và trả cho bị cáo Nguyễn Văn T 1.000.000 đồng trong số tiền 2.000.000 đồng tại biên lai thu số 0002866, ngày 17 tháng 6 năm 2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện TP

Tịch thu tiêu hủy 0,2976 gam mẫu M1 còn lại sau giám định, được niêm phong trong phong bì số 248/1, có chữ ký của giám định viên Đinh Trung Hiếu và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỷ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận; gói nylon được niêm phong trong phong bì số 248/2, có chữ ký của giám định viên Đinh Trung Hiếu và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỷ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận (trong quá trình giám định mậu M2 đã được sử dụng hết); gói nylon được niêm phong trong phong bì số 248/3, có chữ ký của giám định viên Đinh Trung Hiếu và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỷ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận (trong quá trình giám định mậu M3 đã được sử dụng hết); 01 hộp giấy màu trắng kích thước 14,5cm x 6,9cm x 03cm, 01 lọ nhựa loại đựng muối ớt xanh Tây Ninh, 12 gói nylon nhiều kích cỡ bên trong các gói nylon không có gì, 02 đoạn ống nhựa màu trắng sọc vàng dài khoảng 4,5cm được hàn kín một đầu bên trong không có gì (được niêm phong trong phong bì ký hiệu số 05)

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu iphone 7 plus.

Bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung của vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện TP, Điều tra viên, Viện kiểm sát N dân huyện TP, Kiểm sát viên; trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Vì vậy, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng là hợp pháp.

. Về hành vi của bị cáo Nguyễn Văn T: Bị cáo Nguyễn Văn T là công dân có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo biết hành vi mua bán ma túy là vi phạm pháp luật hình sự nhưng vì muốn có tiền tiêu xài, nên khi nhặt được bọc nylon bên trong có ma túy dạng khay và kẹo, T biết rõ trong gói nylon chứa ma túy nhưng T vẫn mang về phòng trọ cất giấu nhằm mục đích bán cho người nghiện.

Lần 1: Khoảng 21 giờ ngày 18 tháng 02 năm 2021, khi T đang làm việc ở trước bãi giữ xe Club 399 thì N gọi điện thoại vào số thuê bao xxxxxxxxxx của T hỏi có biết ai bán ma túy không mua 500.000 đồng ma túy dạng khay. T bảo N đợi rồi T về nhà trọ lấy 01 gói ma túy dạng khay đến trước Club 399 đưa cho N lấy 500.000 đồng.

Lần 2: Khoảng 10 giờ 15 phút ngày 23 tháng 02 năm 2021, T đang ở nhà trọ thì N gọi điện thoại cho T hỏi mua 01 gói ma túy (hàng khay) với giá 1.000.000 đồng và hẹn gặp nhau tại quán cà phê MingHouse, thuộc khu phố 5 thị trấn LH, huyện TP. T đồng ý lấy 01 gói ma túy dạng khay đến nơi hẹn đưa cho N nhưng do không đủ tiền nên N chỉ đưa cho T 500.000 đồng còn nợ lại 500.000 đồng.

Lần 3: Khoảng 15 giờ 10 phút ngày 23 tháng 02 năm 2021, T đang ở nhà trọ thì N gọi điện thoại cho T hỏi mua 4.000.000 đồng ma túy và hẹn địa điểm giao nhận ma túy tại quán cà phê MingHouse. T đồng ý lấy 02 gói ma túy bỏ vào vỏ nylon bọc bao thuốc lá điều khiển xe mô tô hiệu Honda SH, màu đỏ, biển số 86B1-533.11 chở theo Nguyễn Trần Hoàng Dung là bạn giái của T đến bên hông quán cà phê MingHouse. T gọi điện thoại cho N ra lấy ma túy nhưng N vừa đi ra chưa kịp giao nhận ma túy thì tổ công tác Đồn Biên phòng Cửa khẩu cảng LH phát hiện bắt quả tang

Hành vi đó bán 3 lần bán ma túy cho Nguyễn Trọng N của Nguyễn Văn T đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự như bản cáo trạng số: 89/CT-VKS-TP, ngày 01 tháng 7 năm 2021 của Viện kiểm sát N dân huyện TP và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa.

. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: bị cáo không có tình tiết tăng nặng; bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “thành khẩn khai báo” theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

.Về phần tang vật của vụ án: Bị cáo T bán ma túy thu được 1.000.000 đồng, đây là tiền phạm tội mà có nên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước, hiện đang tạm giữ của bị cáo 2.000.000 đồng nên tịch thu 1.000.000 đồng và trả cho bị cáo 1.000.000 đồng.

0,2976 gam mẫu M1 còn lại sau giám định, được niêm phong trong phong bì số 248/1, có chữ ký của giám định viên Đinh Trung Hiếu và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Thuận; gói nylon được niêm phong trong phong bì số 248/2, có chữ ký của giám định viên Đinh Trung Hiếu và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Thuận (trong quá trình giám định mậu M2 đã được sử dụng hết); gói nylon được niêm phong trong phong bì số 248/3, có chữ ký của giám định viên Đinh Trung Hiếu và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỷ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Thuận (trong quá trình giám định mậu M3 đã được sử dụng hết); 01 hộp giấy màu trắng kích thước 14,5cm x 6,9cm x 03cm, 01 lọ nhựa loại đựng muối ớt xanh Tây Ninh, 12 gói nylon nhiều kích cỡ bên trong các gói nylon không có gì, 02 đoạn ống nhựa màu trắng sọc vàng dài khoảng 4,5cm được hàn kín một đầu bên trong không có gì (được niêm phong trong phong bì ký hiệu số 05). Trong đó ma túy là vật cấm lưu hành, hộp giấy, gói nilon, ống nhựa là những vật không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

01 điện thoại hiệu Iphone 7 Plus màu hồng là công cụ bị cáo dùng vào việc phạm tội nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

. Về án phí: Bị cáo T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự

Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 07 (bảy) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày 23 tháng 02 năm 2021.

Căn cứ vào điểm a, b khoản 1 Điều 46; điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 1.000.000 đồng và trả cho bị cáo Nguyễn Văn T 1.000.000 đồng trong số tiền 2.000.000 đồng tại biên lai thu số 0002866, ngày 17 tháng 6 năm 2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện TP

Tịch thu tiêu hủy 0,2976 gam mẫu M1 còn lại sau giám định, được niêm phong trong phong bì số 248/1, có chữ ký của giám định viên Đinh Trung Hiếu và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỷ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận; gói nylon được niêm phong trong phong bì số 248/2, có chữ ký của giám định viên Đinh Trung Hiếu và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỷ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận (trong quá trình giám định mậu M2 đã được sử dụng hết); gói nylon được niêm phong trong phong bì số 248/3, có chữ ký của giám định viên Đinh Trung Hiếu và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỷ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận (trong quá trình giám định mậu M3 đã được sử dụng hết); 01 hộp giấy màu trắng kích thước 14,5cm x 6,9cm x 03cm, 01 lọ nhựa loại đựng muối ớt xanh Tây Ninh, 12 gói nylon nhiều kích cỡ bên trong các gói nylon không có gì, 02 đoạn ống nhựa màu trắng sọc vàng dài khoảng 4,5cm được hàn kín một đầu bên trong không có gì (được niêm phong trong phong bì ký hiệu số 05)

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu iphone 7 plus

(tang vật theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 05 tháng 7 năm 2021 giữa Chi cục thi hành án dân sự huyện TP với Công an huyện TP)

Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Văn T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm

Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự

Bị cáo Nguyễn Văn T có mặt, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 16/7/2021).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ