vanban.org

Bản án 84/2021/HSST — Hình sự

TAND huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình Tuyên án 26/10/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Truy tố ra trước Toà án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình để xét xử bị can: Đào Thanh Phong có lý lịch nêu trên về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Kèm theo cáo trạng có: Hồ sơ vụ án gồm nhiều tập, bằng ... tờ, đánh số thứ tự từ 01 đến ... Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đào Thanh P tàng trữ TP chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Truy tố ra trước Toà án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình để xét xử bị can: Đào Thanh Phong có lý lịch nêu trên về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐÔNG HƯNG
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 84/2021/HSST
Ngày 26/10/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM



TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG – TỈNH THÁI BÌNH

Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Nhung.

Các hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Thanh Thủy và ông Đoàn Ngọc Sử.

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Bùi Thuận Yến - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Huế - Kiểm sát viên.

Trong ngày 26 tháng 10 năm 2021. Tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 81/2021/TLST - HS ngày 06/10/2021 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 80/2021/QĐST - HS ngày 12/10/2021 đối với :

Bị cáo: Đào Thanh Ph, sinh ngày 23/7/1992, Giới tính: Nam; Tên gọi khác : Không

Nơi sinh, nơi cư trú: thôn T Qu, xã T B, thành phố TB, tỉnh Th B. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Bố đẻ: Đào Tuấn Kh, Mẹ đẻ Nguyễn Thị Th; Có vợ là Phạm Thị Th1, hiện đã ly hôn. Có 01 con, sinh năm 2013 hiện đang ở cùng với chị Thảo.

Nhân thân: Từ năm 2010 đến năm 2012 Ph tham gia nghĩa vụ quân sự. Ngày 01/8/2013, bị Công an huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi “Xâm hại sức khỏe người khác” theo quyết định số 157/QĐ-XPHC, đã chấp hành xong ngày 5/8/2013. Ngày 10/6/2016 bị Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Ngày 08/02/2018, Phong chấp hành xong toàn bộ bản án.

- Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 02/7/2021 sau chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đông Hưng.

( Bị cáo được trích xuất có mặt tại phiên tòa)

Người chứng kiến :

1.Ông Nguyễn Thái H, sinh năm 1972

Trú tại: Thôn Đ N, xã Đ Đ, huyện Đ H, tỉnh Th B

2. Ông Nguyễn Tuấn L, sinh năm 1978

Trú tại: Thôn Q Qu, xã Đ Đ1, huyện ĐH, tỉnh Th B

(Đều vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến vụ án tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đào Thanh Ph là đối tượng sử dụng ma túy. Khoảng 21 giờ 00 phút ngày 01/7/2021, Ph bắt taxi lên khu vực cầu Bo, thành phố Thái Bình để ăn đêm. Sau đó, Ph đi bộ xuống khu vực Công viên nước, phường Hoàng Diệu để tìm gặp một người đàn ông khoảng 40 tuổi, cao khoảng 1m60, dáng người gầy Ph không biết tên, tuổi địa chỉ có đặc điểm giống như bạn bè đã mô tả để mua ma túy. Ph hỏi mua 200.000 đồng ma túy đá, người này đồng ý đưa cho Ph 01 túi nilon trong suốt trong có chứa ma túy đá. Ph cầm và cất gói ma túy tại túi quần bên trái phía trước đang mặc. Sau đó, Ph tiếp tục đón xe taxi xuống huyện Đông Hưng để đi tìm nhà nghỉ để sử dụng ma túy. Đến khoảng 23 giờ 00 phút khi đến khu vực cầu Đống Năm thuộc địa phận xã Đông Động, huyện Đông Hưng, Ph xuống xe đi bộ, đi được một đoạn thì Ph bị Tổ công tác của Công an huyện Đông Hưng và Công an xã Đông Động yêu cầu dừng lại để kiểm tra vì nghi vấn Ph có liên quan đến ma túy. Tổ công tác đã mời người chứng kiến đến và giải thích quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật cho Ph. Ph đã tự nguyện lấy từ túi quần bên trái phía trước đang mặc ra giao nộp cho Tổ công tác 01 túi nilon trong suốt được gắn kín bằng nhiệt bên trong có chứa chất dạng tinh thể trong suốt. Ph khai nhận đó là ma túy đá Ph mua để sử dụng. Tiến hành kiểm tra người Ph không thu giữ, quản lý gì thêm. Tổ công tác đã niêm phong túi nilon trên vào một ph bì thư và yêu cầu những người có liên quan xác nhận. Sau đó, Tổ công tác đã tiến hành đưa Ph và mời người chứng kiến về UBND xã Đông Động để lập các văn bản theo quy định pháp luật.

Cơ quan điều tra Công an huyện Đông Hưng tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Đào Thanh Ph tại thôn T Q, xã T B, thành phố Th B, tỉnh Th B nhưng không thu giữ gì.

Tại bản kết luận giám định số 260/KLGĐ-PC09 ngày 05/7/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình, kết luận: Mẫu vật gửi giám định là ma tuý, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,2163 gam (Không phẩy hai nghìn một trăm sáu mươi ba gam).

Căn cứ vào hành vi phạm tội của bị cáo; Cáo trạng số 84/CT- VKSĐH ngày 04/10/2021 đã truy tố bị cáo Ph về tội:“Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Trong phần tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng giữ quyền công tố tại phiên tòa phân tích nguyên nhân, điều kiện phạm tội, đánh giá chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định vô tội, tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi vi phạm, hậu quả, nhân thân của bị cáo, tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trên cơ sở đó đề nghị HĐXX kết tội bị cáo Ph theo toàn bộ cáo trạng đã truy tố, đồng thời áp dụng Điểm c, khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự tuyên bố bị cáo Ph phạm tội:“ Tàng trữ trái phép chất ma túy” phạt bị cáo mức hình phạt từ 02 năm– 02 năm 03 tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo đồng thời đề nghị HĐXX xử lý vật chứng.

Tại phiên tòa bị cáo Ph đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình cụ thể như sau:

Hồi 22 giờ 45 phút ngày 01/7/2021, tại Quốc lộ 10, thuộc địa phận thôn Đống Năm, xã Đông Động, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình, Ph có hành vi tàng trữ trái phép 0,2163 gam ma túy (Không phẩy hai nghìn một trăm sáu mươi ba gam), loại Methamphetamine với mục đích sử dụng bị tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế - ma túy Công an huyện Đông Hưng phối hợp với Công an xã Đông Động, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình bắt quả tang.

Bị cáo xác định cáo trạng truy tố bị cáo về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là đúng pháp luật vì vậy không trình bày lời bào chữa, cũng không trình bày ý kiến tranh luận về tội danh, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ, điều luật áp dụng, mức hình phạt do Kiểm sát viên đề nghị.

Kết thúc phần tranh luận tại phiên tòa bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo biết việc tàng trữ ma túy là sai, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, để bị cáo được sớm trở về với gia đình.

PHẦN NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa hội đồng xét xử nhận định như sau:

[ 1] Về hành vi quyết định tố tụng:

Các tài liệu chứng chứng cứ do Điều tra viên, Kiểm sát viên thu thập trong quá trình điều tra vụ án đã tuân thủ các quy định của pháp luật. Đó là các tài liệu hợp pháp chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo. Căn cứ vào các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đông Hưng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[ 2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa đúng như lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với cáo trạng số 84/CT - VKSĐH ngày 04/10/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng đã truy tố.

Lời khai nhận tội của bị cáo còn phù hợp với biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang do Công an huyện Đông Hưng lập hồi 00 giờ 15 phút ngày 02/7/2021, phù hợp với Kết luận giám định 260/KLGĐ-PC09 ngày 05/7/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình, phù hợp với lời khai của người chứng kiến là ông Nguyễn Thái H, ông Nguyễn Tuấn L và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Do vậy có đủ cơ sở kết luận: Hồi 22 giờ 45 phút ngày 01/7/2021, tại địa phận thôn Đống Năm, xã Đông Động, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình, Đào Thanh Ph có hành vi tàng trữ trái phép 0,2163 gam (Không phẩy hai nghìn một trăm sáu mươi ba gam) ma túy loại Methamphetamine, với mục đích để sử dụng bị Công an huyện Đông Hưng bắt quả tang.

Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Điều 249.Tàng trữ trái phép chất ma túy

1.Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

....

c. Heroin, cocain, methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR -11cos khối lượng từ 0,1gam đến 05 gam;

.....

[3] Về tính chất mức độ hậu quả hành vi phạm tội , nhân thân của bị cáo:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất gây nghiện của Nhà nước, gây mất trật tự an ninh an toàn xã hội. Bị cáo là người có nhân thân xấu từng bị xử phạt hành chính về hành vi xâm phạm sức khỏe của người khác và bị Tòa án kết án về tội mua bán trái phép chất ma túy, nhưng sau khi cải tạo xong, vẫn không lấy đó làm bài học tu dưỡng bản thân, biết tác hại của ma túy, biết việc tàng trữ trái phép chất ma túy là bất hợp pháp nhưng vẫn tàng trữ ma túy để sử dụng. Vì vậy, việc đưa vụ án ra xét xử và áp dụng mét møc ¸n tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng răn đe giáo dục và phòng ngừa tội phạm.

[ 4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Bị cáo thành khẩn khai báo, có thời gian tham gia quân đội nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điểm s khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.

[5]Về hình phạt bổ sung: Bị cáo tàng trữ ma túy để sử dụng, lao động tự do không có thu nhập ổn định, hoàn cảnh gia đình khó khăn, do vậy không nhất thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6]Về xử lý vật chứng: Số ma túy loại Methamphetamine thu giữ của Phong là chất Nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.

[7]Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định

Về nguồn gốc ma tuý: Ph khai mua của người đàn ông nhưng không biết, tên, địa chỉ cụ thể của người này. Ngoài lời khai của Ph không có tài liệu nào khác nên không có căn cứ để điều tra xử lý.

Về số tiền 200.000đồng dùng để mua ma túy là do Ph lao động mà có.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

1.Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đào Thanh Ph phạm tội:“Tàng trữ trái phép chất ma túy”

2.Về hình phạt và điều luật áp dụng: Áp dụng Điểm c khoản 1 Điều 249, Điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 38; Điều 50, Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Đào Thanh Ph 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 02/7/2021.

3.Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật hình sự.

Tịch thu, tiêu hủy 0,1263 gam (Không phẩy một nghìn hai trăm sáu mươi ba gam) ma túy loại Methamphetamine được niêm phong, trong phong bì do phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình hoàn trả mẫu vật giám định, có đặc điểm như trong biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Đông Hưng và Chi cục thi hành án dân sự huyện Đông Hưng ngày 05/10/2021.

4.Về án phí: Áp dụng Điều 136, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu án lệ phí Tòa án buộc bị cáo Đào Thanh Ph phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5.Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án ngày 26/10/2021. Nơi nhận:

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

- Bị cáo

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

- Công an huyện Đông Hưng

- Viện kiểm sát nhân dân huyệnĐông Hưng

- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình

- Chi cục T.HADS huyện Đông Hưng

- UBND xã Tân Bình, Tp Thái Bình, tỉnh Thái

Hà Thị Nhung Bình

- L u hå s¬, V¨n phßng; THÀNH VIÊN CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

HUYỆN ĐÔNG HƯNG

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH THÁI BÌNH

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

Vào hồi giờ ngày 11 tháng 5 năm 2020. Tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng .

Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm :

Thẩm phán chủ tọa phiên toà:Bà Hà Thị Nhung.

Các hội thẩm nhân dân:Bà Nguyễn Thị Vĩnh và ông Lê Đình Cự

Tiến hành nghị án đối với vụ án hình sự thụ lý số 27/2020/HSST ngày 15/4/2021 đối với

Bị cáo: Nguyễn Văn Tuấn, sinh ngày 10/7/1984.

Nơi sinh và cư trú:Thôn Quang Trung, xã Minh Tân, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.

Căn cứ vào Điều 299 và Điều 326 Bộ luật tố tụng hình sự.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa quả tranh luận tại phiên toà. Các quy định của pháp luật.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN

ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU

1/Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Văn Tuấn, phạm tội:“Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Kết quả biểu quyết 3/3.

2/ Về điều luật áp dụng và hình phạt:

Áp dụng Điểm c khoản 1 Điều 249, Điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38; Điều 50, Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Tuấn, 02(hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 19/01/2021

Kết quả biểu quyết 3/3.

3/ Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 47 Bộ luật hình sự

Tịch thu, tiêu hủy 0,1350 gam (Không phẩy một nghìn ba trăm năm mươi gam)ma túy loại Heroine được niêm phong, trong phong bì do phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình hoàn trả mẫu vật giám định.

Các đồ vật trên có đặc điểm như trong biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Đông Hưng và Chi cục thi hành án dân sự huyện Đông Hưng ngày 15/4/2021.

Kết quả biểu quyết 3/3.

4/Về án phí và quyền kháng cáo:

Áp dụng Điều 136, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu án lệ phí Tòa án buộc bị cáo Nguyễn Văn Tuấn phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm .

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án ngày 11/5/2021.

Kết quả biểu quyết 3/3.

THÀNH VIÊN CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ VIỆN KSND TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VIỆN KSND HUYỆN ĐÔNG HƯNG

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 84/CT-VKSĐH

Đông Hưng, ngày 04 tháng 10 năm 2021

CÁO TRẠNG

VIỆN TRƯỞNG VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG

Căn cứ các Điều 41, 236, 239 và Điều 243 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ Quyết định khởi tố vụ án hình sự số 77 ngày 05/7/2021 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, quy định tại Điều 249 của Bộ luật Hình sự;

Căn cứ Quyết định khởi tố bị can số 112 ngày 05/7/2021 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình đối với: Đào Thanh Phong, sinh ngày 23/7/1992, nơi cư trú: thôn Tân Quán, xã Tân Bình, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự;

Căn cứ Bản kết luận điều tra số 87 ngày 17 tháng 09 năm 2021 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình.

Trên cơ sở kết quả điều tra đã xác định được như sau:

Đào Thanh Phong, sinh ngày 23/7/1992, trú tại thôn Tân Quán, xã Tân Bình, thành phố Thái Bình là đối tượng sử dụng ma túy tại địa phương. Khoảng 21 giờ 00 phút ngày 01/7/2021, Phong bắt taxi lên khu vực cầu Bo, thành phố Thái Bình để ăn đêm. Sau đó, Phong đi bộ xuống khu vực Công viên nước, phường Hoàng Diệu để tìm gặp một người đàn ông khoảng 40 tuổi, cao khoảng 1m60, dáng người gầy Phong không biết tên, tuổi địa chỉ có đặc điểm giống như bạn bè đã mô tả để mua ma túy. Phong hỏi mua 200.000đồng ma túy đá, người này đồng ý đưa cho Phong 01 túi nilon trong suốt trong có chứa ma túy đá. Phong cầm và cất gói ma túy tại túi quần bên trái phía trước đang mặc. Sau đó, Phong tiếp tục đón xe taxi xuống huyện Đông Hưng để đi tìm nhà nghỉ để sử dụng ma túy. Đến khoảng 23 giờ 00 phút khi đến khu vực cầu Đống Năm thuộc địa phận xã Đông Động, huyện Đông Hưng, Phong xuống xe đi bộ, đi được một đoạn thì Phong bị Tổ công tác của Công an huyện Đông Hưng và Công an xã Đông Động yêu cầu dừng lại để kiểm tra vì nghi vấn Phong có liên quan đến ma túy. Tổ công tác đã mời người chứng kiến đến và giải thích quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật cho Phong. Phong đã tự nguyện lấy từ túi quần bên trái phía trước đang mặc ra giao nộp cho Tổ công tác 01 túi nilon trong suốt được gắn kín bằng nhiệt bên trong có chứa chất dạng tinh thể trong suốt. Phong khai nhận đó là ma túy đá Phong mua để sử dụng. Tiến hànhkiểm tra người Phong không thu giữ, quản lý gì thêm. Tổ công tác đã niêm phong túi nilon trên vào một phong bì thư và yêu cầu những người có liên quan xác nhận. Sau đó, Tổ công tác đã tiến hành đưa Phong và mời người chứng kiến về UBND xã Đông Động để lập các văn bản theo quy định pháp luật.

Cơ quan điều tra Công an huyện Đông Hưng tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Đào Thanh Phong tại thôn Tân Quán, xã Tân Bình, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình nhưng không thu giữ gì.

Tại bản kết luận giám định số 260/KLGĐ-PC09 ngày 05/7/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình, kết luận: Mẫu vật gửi giám định là ma tuý, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,2163 gam (Không phẩy hai nghìn một trăm sáu mươi ba gam).

Methamphetaimine STT 323 Danh mục II, Nghị định 73/2018/NĐ – CP

ngày 15/5/2018 và Nghị định 60/2020/NĐ – CP ngày 29/5/2020 của Chính phủ. ( Bút lục số 12).

Trước Cơ quan điều tra, bị can Đào Thanh Phong đã khai nhận hành vi phạm tội của bản thân (Bút lục số 43 đến 52).

Hành vi phạm tội của bị can còn được chứng minh bằng các chứng cứ sau:

- Biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang do Cơ quan Công an huyện Đông Hưng lập hồi 00 giờ 15 phút ngày 02/7/2021 tại Ủy ban nhân dân xã Đông Động, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình (Bút lục số 01 đến 02);

- Biên bản niêm phong vật chứng (Bút lục số 03);

- Biên bản ghi lời khai của những người chứng kiến: ông Nguyễn Thái Học, sinh năm 1972, trú tại thôn Đống Năm, xã Đông Động, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình và ông Nguyễn Tuấn Long, sinh năm 1978, trú tại thôn Quả Quyết, xã Đông Động, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình (Bút lục số 53 đến 59)

- Lời khai nhận của bị can phù hợp với lời khai của người chứng kiến và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật, xử lý vật chứng: 01 phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 260/KLGĐ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình trong có chứa 0,1263 gam Methamphetamine Cơ quan điều tra Công an huyện Đông Hưng đang quản lý theo thủ tục vật chứng.

Căn cứ vào các tình tiết và chứng cứ nêu trên,

KẾT LUẬN

Hồi 22 giờ 45 phút ngày 01/7/2021, tại Quốc lộ 10, thuộc địa phận thôn Đống Năm, xã Đông Động, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình, Tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế - ma túy Công an huyện Đông Hưng phối hợp với Công an xã Đông Động, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình bắt quả tang Đào Thanh Phong, sinh ngày 23/7/1992, trú tại thôn Tân Quán, xã Tân Bình, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình có hành vi tàng trữ trái phép 0,2163 gam ma túy (Không phẩy hai nghìn một trăm sáu mươi ba gam), loại Methamphetamine với mục đích sử dụng.

Như vậy có đủ căn cứ để xác định bị can có lý lịch dưới đây đã phạm tội như sau:

Họ và tên: Đào Thanh Phong, sinh ngày 23/7/1992.

Nơi sinh, nơi cư trú: thôn Tân Quán, xã Tân Bình, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.

Trình độ văn hóa: 09/12 ; Nghề nghiệp: Lao động tự do.

Họ tên bố: Đào Tuấn Khanh, sinh năm 1967

Họ tên mẹ: Nguyễn Thị Thơm, sinh năm 1971.

Hiện trú tại thôn Tân Quán, xã Tân Bình, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.

Gia đình có 02 anh em, bị can là con thứ nhất.

Bị can kết hôn với chị Phạm Thị Thảo, sinh năm 1994, hiện đã ly hôn.

Có 01 con, sinh năm 2013 hiện đang ở cùng với mẹ.

Quá trình hoạt động: Bản thân học hết lớp 09/12 sau đó ở nhà lao động tự do. Từ năm 2010 đến năm 2012 Phong tham gia nghĩa vụ quân sự. Ngày 01/8/2013, bị Công an huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình xử phạt hành chính về hành vi “Xâm hại sức khỏe người khác” theo quyết định số 157/QĐ-XPHC, phạt tiền 1.500.000đồng, đã chấp hành xong ngày 5/8/2013. Ngày 10/6/2016 bị Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xử phạt 02 năm 06 tháng tù về hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy”, phạt tiền: 5.000.000đồng; Tịch thu sung quỹ 500.000đồng; chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm. Ngày 08/02/2018, Phong chấp hành xong án phạt tù, ngày 05/9/2016 Phong đã chấp hành xong các khoản phạt tiền, tịch thu sung quỹ và án phí hình sự.

- Tiền án, tiền sự: Không

- Bị can bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 02/7/2021 sau chuyển tạm giam. Hiện bị can đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ công an huyện Đông Hưng.

Hành vi nêu trên của Đào Thanh Phong đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc một trong các tội quy định tại các điều 248, 250, 251 và 252 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

b) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 01 gam đến dưới 500 gam;

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

d) Lá cây côca; lá khát (lá cây Catha edulis); lá, rễ, thân, cành, hoa, quả của cây cần sa hoặc bộ phận của cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định có khối lượng từ 01 kilôgam đến dưới 10 kilôgam;

đ) Quả thuốc phiện khô có khối lượng từ 05 kilôgam đến dưới 50 kilôgam;

e) Quả thuốc phiện tươi có khối lượng từ 01 kilôgam đến dưới 10 kilôgam;

g) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 01 gam đến dưới 20 gam;

h) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích từ 10 mililít đến dưới 100 mililít;

i) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

d) Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Sử dụng người dưới 16 tuổi vào việc phạm tội;

e) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 500 gam đến dưới 01 kilôgam;

g) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam;

h) Lá cây côca; lá khát (lá cây Catha edulis); lá, rễ, thân, cành, hoa, quả của cây cần sa hoặc bộ phận của cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định có khối lượng từ 10 kilôgam đến dưới 25 kilôgam;

i) Quả thuốc phiện khô có khối lượng từ 50 kilôgam đến dưới 200 kilôgam;

k) Quả thuốc phiện tươi có khối lượng từ 10 kilôgam đến dưới 50 kilôgam;

l) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 20 gam đến dưới 100 gam;

m) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích từ 100 mililít đến dưới 250 mililít;

n) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm e đến điểm m khoản này;

o) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm:

a) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 01 kilôgam đến dưới 05 kilôgam;

b) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 30 gam đến dưới 100 gam;

c) Lá cây côca; lá khát (lá cây Catha edulis); lá, rễ, thân, cành, hoa, quả của cây cần sa hoặc bộ phận của cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định có khối lượng từ 25 kilôgam đến dưới 75 kilôgam;

d) Quả thuốc phiện khô có khối lượng từ 200 kilôgam đến dưới 600 kilôgam;

đ) Quả thuốc phiện tươi có khối lượng tù 50 kilôgam đến dưới 150 kilôgam;

e) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 100 gam đến dưới 300 gam;

g) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích từ 250 mililít đến dưới 750 mililít;

h) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản này.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng 05 kilôgam trở lên;

b) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng 100 gam trở lên;

c) Lá cây côca; lá khát (lá cây Catha edulis); lá, rễ, thân, cành, hoa, quả của cây cần sa hoặc bộ phận của cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định có khối lượng 75 kilôgam trở lên;

d) Quả thuốc phiện khô có khối lượng 600 kilôgam trở lên;

đ) Quả thuốc phiện tươi có khối lượng 150 kilôgam trở lên;

e) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng 300 gam trở lên;

g) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích 750 mililít trở lên;

h) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản này.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng: Quá trình điều tra bị can đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của bản thân, bị can có thời gian tham gia quân đội nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị can không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.

Việc xử lý những vấn đề liên quan: Về nguồn gốc ma túy Phong khai mua của một người đàn ông Phong không biết tên, tuổi, địa chỉ tại khu vực Công viên nước, phường Hoàng Diệu, thành phố Thái Bình, vì vậy không có căn cứ để xử lý. Số tiền 200.000đồng Phong sử dụng mua ma túy là tiền do Phong lao động mà có.

Vì các căn cứ nêu trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Truy tố ra trước Toà án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình để xét xử bị can: Đào Thanh Phong có lý lịch nêu trên về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

2. Kèm theo cáo trạng có:

- Hồ sơ vụ án gồm nhiều tập, bằng ... tờ, đánh số thứ tự từ 01 đến ...

- Danh sách những người Viện kiểm sát đề nghị Tòa án triệu tập đến phiên tòa./.

Cỡ chữ