- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trứ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Chính T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”;
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRUỜNG TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:84/2021/HS-ST Ngày:31-12-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG - TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Ngọc Long.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Văn Hùng;
Ông Phạm Kim An.
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Kim Cúc - Thư ký Toà án nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Bà Trịnh Thị Trinh - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 81/2021/TLST-HS, ngày 07 tháng 12 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 82/2021/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 12 năm 2021 đối với bị cáo:
Phạm Chính T, sinh ngày 29/10/1968 tại thị trấn X, huyện X, tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Tổ 15, thị trấn X, huyện X, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Thanh L (đã chết) và bà Nguyên Thị H; bị cáo có vợ là Đinh Thị L, sinh năm 1972; có 02 con, con lón sinh năm 1991, con nhỏ sinh năm 1997; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 08/6/2021, bị Công an xã Xuân Kiên xử phạt vi phạm hành chính về hành vi: “Trộm cắp tài sản”. Ngày 06/8/2021 bị UBND thị trấn Xuân Trường áp dụng biện pháp xử lý hành chính “Giáo dục tại xã, phường, thị trấn”.
Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 30/9/2021 đến ngày 06/10/2021 chuyển tạm giam đến nay; có mặt.
Luật sư bào chữa cho bị cáo Phạm Chính T: Bà Trần Thị Thủy - Trợ giúp viên pháp lý trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Nam Định; có mặt.
- Người chứng kiến:
Anh Hoàng Thọ T, sinh năm 1989; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ ngày 30/9/2021, Phạm Công T đi bộ từ nhà ở tổ 15, thị trấnX, huyện X, tỉnh Nam Định, mục đích để mua ma túy để sử dụng cho bản thân. Đến nơi, T gặp một người đàn ông không rõ tên, tuổi, địa chỉ, qua nói chuyện, dò hỏi người này chỉ cho Tvào một dong nhỏ ở tổ 13, thị trấn x có người bán ma túy. T hỏi “Bán cho 100.000 đồng Heroine’’; người ngày đồng ý nhận tiền và đưa lại cho Trực 01 đoạn ống nhựa nhỏ màu hồng hàn kín hai đầu, bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng, T nhận đoạn ống nhựa, xác định là Heroine, cầm ở tay trái và bộ tìm nơi để sử dụng. Khoảng 13 giờ 20 phút cùng ngày, khi T đi đến tổ 12, thị trấn X, huyện X, tỉnh Nam Định thì bị Tổ công tác Công an huyện Xuân Trường thấy có biểu hiện ghi vấn đã yêu cầu kiểm tra. T đã giao nộp cho Tổ công tác ống nhỏ chứa Heroine vừa mua. Tổ công tác đã mời người chứng kiến tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong ống nhỏ T giao nộp trong phong bì thư ký hiệu là M..
Ngày 07/9/2021, Cơ quan CSĐT Công an huyện Xuân Trường đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Phạm Chính T nhưng không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Kết quả xét nghiệm định tính Morphin đối với Phạm Chính T ngày 30/9/2021 của Trung tâm y tế huyện Xuân Trường xác định: Phạm Chính T dương tính Morphin.
Tại bản kết luận giám định số 1296/GĐKTHS ngày 04/10/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận: Mẫu bột dạng cục màu trắng trong 01 đoạn ống nhựa nhỏ màu hồng, hàn kín hai đầu trong phong bì thư được niêm phong ký hiệu M gửi giám định là ma túy: Heroine; khối lượng mẫu M: 0,134 gam.
Tại cơ quan điều tra, Phạm Chính T đã khai nhận toàn bộ hành tàng trữ trái phép chất ma túy của bản thân như đã nêu và không có khiếu nại về kết luận giám định trên.
Cáo trạng số 79/CT-VKSHXT, ngày 06/12/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường đã truy tố bị cáo Phạm Chính T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường luận tội, đánh giá mức độ nguy hiểm của hành vi, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đã giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh và hình phạt chính: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;
- Tuyên bố bị cáo Phạm Chính T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt bị cáo Phạm Chính Trực từ 2 năm 3 tháng đến 2 năm 7 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Hoàn cảnh kinh tế gia đình bị cáo khó khăn đề nghị HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu, cho tiêu hủy số ma túy đã thu giữ của bị cáo.
Bị cáo không tự bào chữa, tranh luận gì.
Luật sự bào chữa cho bị cáo Phạm Chính T trình bày: Hành vi của Phạm Chính T “Tàng trữ trái phép chất ma túy” như Viện kiểm sát truy tố theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tôi, đúng pháp luật. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, hoàn cảnh kinh tế gia đình bị cáo khó khăn nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Khi lượng hình phạt đề nghị HĐXX cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm và sớm trở về với gia đình, cộng đồng xã hội.
Bị cáo nhất trí với bào chữa của luật sư và không bổ sung gì. Trong lời nói sau cùng bị cáo tỏ thái độ ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Xuân Trường, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về việc kết tội: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại giai đoạn điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người chứng kiến, kết hợp với kết luận giám định về số ma túy thu giữ cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định: Khoảng 13 giờ 20 phút ngày 30/9/2021, tại khu vực tổ 12, thị trấn X, huyện X, tỉnh Nam Định, Phạm Chính T đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy trong người 0,134 gam Heroine với mục đích sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện bắt quả tang. Vì vậy, hành vi của bị cáo Phạm Chính T đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, như Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường đã truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về tính nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi Tàng trữ trái phép chất ma tuý của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý của Nhà nước về các chất gây nghiện, tiếp tay cho tệ nạn mua bán, sử dụng trái phép chất ma tuý, một hiểm hoạ lớn cho toàn xã hội, là nguồn gốc phát sinh nhiều loại tội phạm như: Trộm cắp tài sản, cướp tài sản..., làm tan vỡ hạnh phúc bao gia đình. Bị cáo là người có năng lực hành vi nhận thực được việc nghiện mà túy là có tác hại cho bản thân cũng như kinh tế của gia đình xong bị cáo vẫn tàng trữ để sử dụng cho bản thân. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm bị cáo theo quy định của pháp luật hình sự để răn đe và phòng ngừa chung.
Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51của Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt chính: Sau khi cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được áp dụng, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian là áp dụng hình phạt tù có thời hạn tương xứng với tính chất mức độ hành vi cũng như theo đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát mới đủ tác dụng trừng trị, giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy hoàn cảnh kinh tế của bị cáo khó khăn nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Về xử lý vật chứng thu giữ:
Số ma túy đã thu giữ của bị cáo là vật Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu, cho tiêu hủy.
Đối với người bán ma túy cho bị cáo T, T không biết tên, tuổi, địa chỉ. Cơ quan CSĐT Công an huyện Xuân Trường đã tiến hành kiểm tra, xác minh nhưng không làm rõ được nên không đủ cơ sở kết luận.
Về án phí: Bị cáo bị kết tội nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố bị cáo Phạm Chính T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”;
Xử phạt bị cáo Phạm Chính T 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 30/9/2021.
2. Xử lý vật chứng, tài sản thu giữ: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu, tiêu hủy số ma túy trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 1296/GĐKTHS của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định.
(Chi tiết vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 23/THA ngày 21/12/2021 giữa Công an huyện Xuân Trường và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuân Trường).
3. Án phí: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 cùng Danh mục án phí, lệ phí Tòa án kèm theo của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Bị cáo Phạm Chính T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nam Định; - VKSND tỉnh Nam Định; - VKSND huyện X - Chi cục THADS huyện X; - Công an huyện X; - UBND TT; - Bị cáo; - Hồ sơ vụ án; - Lưu văn phòng. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Phạm Ngọc Long |