vanban.org

Bản án 84/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La Tuyên án 17/09/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Cầm Văn D phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.

Xử phạt Cầm Văn D 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/5/2021. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về vật chứng: Căn cứ điểm b, c khoản 1, 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án Cầm Văn D - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Cầm Văn D phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÙ YÊN
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 84/2021/HS-ST
Ngày: 17/9/2021.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ YÊN, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Anh Đức.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Đinh Thị Minh Thúy.

2. Bà Lê Thị Bống.

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Bích Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 8 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 85/2021/TLST-HS ngày 29/7/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 83/2021/QĐXXST-HS ngày 08/9/2021 đối với bị cáo:

Cầm Văn D (Tên gọi khác: Không), sinh ngày 30 tháng 10 năm 1988 tại xã G, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La; nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Bản C, xã G, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng phái, đoàn thể: Không; con ông Cầm Văn N, sinh năm 1962 và bà Vũ Thị Ng, sinh năm: 1964; bị cáo có vợ là Đinh Thị Bình M, sinh năm: 1995, có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2015, con nhỏ nhất sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

+ Ngày 23/01/2007 bị Tòa án nhân dân huyện Phù Yên xử phạt 09 tháng cải tạo không giam giữ về hành vi trộm cắp tài sản (Đã được xóa án tích).

+ Ngày 20/03/2010 bị Công an huyện Phù Yên xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ. Mức phạt 400.000 (Bốn trăm nghìn) đồng. Đã chấp hành xong.

+ Ngày 05/8/2019 Chi cục kiểm lâm Sơn La ra quyết định xử phạt hành chính về hành vi Mua bán lâm sản trái pháp luật. Mức phạt 10.000.000 (Mười triệu) đồng. Đã chấp hành xong.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 04 tháng 5 năm 2021 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Cầm Văn N, sinh năm 1962; nơi cư trú: Bản C, xã G, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La – Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 18 giờ 15 phút ngày 04/5/2021, tổ công tác Công an thị trấn huyện Phù Yên làm nhiệm vụ tại khu vực đường nội thị thuộc Tiểu khu X, thị trấn Phù Yên, huyện Phù Yên tiến hành dừng xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, mang biển kiểm soát 26B1-852.24 do Cần Văn D điều khiển để kiểm tra hành chính về ma túy. Quá trình kiểm tra phát hiện và bắt quả tang Cầm Văn D đang có hành vi cất giấu trái phép chất ma túy, Cầm Văn D khai nhận số ma túy cất giấu mục đích để bán cho Hà Văn K, ở bản NL, xã TP, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La.

Vật chứng thu giữ gồm: 01 gói nilon màu trắng; 07 gói giấy mầu trắng bên trong đều chứa bột màu trắng dạng cục nghi là Heroine; 01 túi nilon màu xanh bên trong chứa 13 viên nén màu hồng, một mặt có chữ WY nghi là Methamphetamine; 01 cân tiểu ly điện tử nhãn hiệu POCKET SCANNLE FEM. Tạm giữ 01 mô tô nhãn hiệu YAMAHA, mang biển kiểm soát 26B1-852.24; 01 điện thoại di động nhãn hiệu ViVo màu đen bên trong có 01 sim cũ đã qua sử dụng và 01 túi vải đeo chéo mầu tím than, cũ đã qua sử dụng.

Quá trình điều tra bị cáo Cầm Văn D khai nhận: Ngày 03/5/2021 bị cáo mua được 01 gói Heroine và 13 viên hồng phiến ma túy tổng hợp với giá 1.700.000đ (Một triêu, bảy trăm nghìn đồng) của một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết tại khu vực xã K, huyện Phù Yên. Sau khi mua được ma túy, bị cáo đã chia 01 gói Heroine thành 07 gói nhỏ, gói bằng giấy trắng. Với mục đích là để sử dụng dần và ai hỏi mua thì bán kiếm lời. Khoảng 17 giờ ngày 04/5/2021 Hà Văn K, ở bản NL, xã TP, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La gọi điện thoại cho bị cáo Cầm Văn D với mục đích hỏi mua ma túy với số tiền là 700.000đ (Bảy trăm nghìn đồng). Bị cáo đồng ý và hẹn gặp K tại khu vực Trại giống thuộc địa phận Tiểu khu x, thị trấn Phù Yên, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La. Bị cáo điều khiển xe mô tô mang biển kiểm soát 26B1-852.24 đến chỗ hẹn, trên đường đi thì bị Tổ công tác yêu cầu dừng xe, kiểm tra phát hiện bắt quả tang.

Sau khi tiếp nhận hồ sơ vụ án, cùng ngày Cơ quan CSĐT Công an huyện Phù Yên đã phối hợp với các đơn vị liên ngành tiến hành mở niêm phong xác định khối lượng gói chất bột mầu trắng nghi là Heroine và Methamphetamine thu giữ của Cầm Văn D như sau: 13 viên nén màu hồng nghi là ma túy tổng hợp có khối lượng 1,279 gam, lấy 0,49 gam gửi giám định (Ký hiệu Đ1); 01 gói chất bột mầu trắng nghi là Heroine có khối lượng 2,68 gam, lấy 0,134 gam gửi giám định (Ký hiệu Đ3) và 07 gói chất bột mầu trắng nghi là Heroine có khối lượng 1,08 gam, lấy 0,14 gam gửi giám định (Ký hiệu Đ5).

Kết luận giám định số: 942 ngày 06/5/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận:

- Mẫu giám định ký hiệu Đ1 là ma túy. Loại Methamphetamine. Khối lượng của mẫu gửi giám định là Đ1= 0,49 gam.

- Mẫu giám định ký hiệu là Đ3 và Đ5 đều là ma túy. Loại Heroin. Khối Lượng của mẫu gửi giám định là Đ3= 0,134 gam, Đ5= 0,14 gam.

- Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 1,279 gam, loại Methamphetamine và 3,46 gam, loại Heroin.

- Tỷ lệ phần trăm về khối lượng của Methamphetamine so với tối thiểu đối với Methamphetamine được quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luận hình sự năm 2015 là 25,58% (1,279g so với 5g x 100%);

- Tỷ lệ phần trăm về khối lượng của Heroine so với tối thiểu đối với Heroine được quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luận hình sự năm 2015 là 75,2% (3,67g so với 5g x 100%).

- Cộng tỷ lệ phần trăm về khối lượng của 02 chất Methamphetamine và Heroine với nhau 25,58% + 75,2% = 100,78% (Thuộc trường hợp trên 100%). Như vậy tổng khối lượng 02 chất ma túy thu giữ của bị cáo Cầm Văn D thuộc trường hợp theo quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luận hình sự năm 2015.

Ngày 16/7/2021 cơ quan CSĐT Công an huyện Phù Yên đã làm thủ tục trả lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Sirius mang biển kiểm soát 26B1-852.24 cho ông Cầm Văn N quản lý, sử dụng.

Tại bản Cáo trạng số 66/CT - VKS ngày 27 tháng 7 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La đã truy tố bị cáo Cầm Văn D về tội Mua bán trái phép chất ma túy, theo điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Cầm Văn D phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy và đề nghị áp dụng các căn cứ pháp luật xử lý đối với bị cáo như sau:

Áp dụng điểm p khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015:

Xử phạt bị cáo Cầm Văn D từ 07 (Bảy) đến 08 (Tám) năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm b, c khoản 1, 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

Ghi nhận việc Cơ quan CSĐT Công an huyện Phù Yên đã làm thủ thục trả lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Sirius mang biển kiểm soát 26B1-852.24, cho ông Cầm Văn N quản lý, sử dụng.

Tuyên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu VIVO V2026 màu đen, cũ đã qua sử dụng.

Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) phong bì đã được niêm phong bên trong gồm: 03 túi nilon đựng chất nghi là ma túy, ký hiệu lần lượt là Đ2 = 0,789 gam, Đ4= 2,546 gam, Đ6= 0,94 gam + 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu khi bắt quả tang đã bóc mở + 07 mảnh giấy trắng có chữ in; 01 (Một) chiếc túi vải đeo chéo nhãn hiệu BAISERN, màu tím than có ngăn đã qua sử dụng; 01 (Một) cân tiểu ly điện tử nhãn hiệu POCKET SCANLE FEM màu đen cũ qua sử dụng.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án: Buộc bị cáo Cầm Văn D phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và không có ý kiến tranh luận gì với vị đại diện Viện kiểm sát, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, nhưng vắng mặt không có lý do. Xét thấy việc vắng mặt không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, căn cứ khoản 1 Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử.

Về quá trình tiến hành tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Về hành vi phạm tội của bị cáo và trách nhiệm hình sự:

Tại phiên tòa, bị cáo vẫn giữ nguyên lời khai tại Cơ quan điều tra, bị cáo không thay đổi, bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án. Bị cáo hoàn toàn nhất trí với cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên. Bị cáo khẳng định việc khai báo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc bị cáo đã thực hiện.

Xét lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 18 giờ 30 phút ngày 04/5/2021 tại Tiểu khu X, thị trấn Phù Yên, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La; vật chứng đã thu giữ; biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định, niêm phong lại vật chứng; kết luận giám định, lời khai của người chứng kiến sự việc; chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Từ những chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Ngày 04/5/2021 bị cáo Cầm Văn D đã có hành vi Mua bán trái phép 3,76 gam Heroine và 1,279 gam Methampetamine, tổng khối lượng 02 chất ma túy = 5,039 gam. Hành vi trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma tuý thuộc trường hợp quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự quy định mức hình phạt tù từ 07 năm đến 15 năm.

Xét về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm tới chế độ quản lý độc quyền chất ma tuý của Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, làm gia tăng các tệ nạn xã hội.

Xét về nhân thân của bị cáo: Bị cáo có nhân thân xấu bản thân là đối tượng nghiện chất ma tuy, có 01 tiền án và 02 tiền sự (Đều đã được xóa án tích), là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi Mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhận thức được tác hại của ma tuý đối với bản thân, gia đình và xã hội nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo cần phải bị xử lý nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra, cần cách ly bị cáo ra ngoài đời sống xã hội một thời gian dài là cần thiết, có như vậy mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt đối với bị cáo cũng cần xem xét sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo.

Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Quá trình điều tra và thẩm vấn công khai tại phiên tòa hôm nay thấy rằng: Bị cáo Cầm Văn D hiện không có công việc, thu nhập ổn định. Hiện đang sống chung cùng bố, mẹ, bản thân không có tài sản riêng gì có giá trị, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp.

Về vật chứng của vụ án:

Đối với chiếc xe mô tô YAMAHA mang biển kiểm soát 26B1-852.24 quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của ông Cầm Văn N, việc bị cáo lấy xe đi bán trái phép ma túy ông N không biết và không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo. Ghi nhận việc Cơ quan CSĐT Công an huyện Phù Yên đã làm thủ tục thu giữ và giao trả lại chiếc xe trên cho ông Cầm Văn N quản lý, sử dụng là đúng pháp luật.

Đối với 01 (Một) phong bì đã được niêm phong bên trong gồm: 03 túi nilon đựng chất nghi là ma túy, ký hiệu lần lượt là Đ2 = 0,789 gam, Đ4= 2,546 gam, Đ6= 0,94 gam + 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu khi bắt quả tang đã bóc mở + 07 mảnh giấy trắng có chữ in; 01 (Một) chiếc túi vải đeo chéo nhãn hiệu BAISERN, màu tím than có ngăn đã qua sử dụng; 01 (Một) cân tiểu ly điện tử nhãn hiệu POCKET SCANLE FEM màu đen cũ qua sử dụng. Xét là vật Nhà nước cấm lưu hành, tài sản hợp pháp của bị cáo sử dụng vào việc phạm tội và không có giá trị sử dụng, do đó cần tuyên tịch thu, tiêu hủy.

Đối với 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu VIVO V2026 màu đen, cũ đã qua sử dụng. Xét là là tài sản hợp pháp của bị cáo sử dụng liên lạc khi bán ma túy, do đó cần tuyên tịch thu sung quỹ Nhà nước, là phù hợp với quy định tại Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Đối với người đàn ông dân tộc Mông bán ma túy cho bị cáo (như bị cáo đã khai), nhưng bị cáo không biết họ, tên và địa chỉ của người này. Do đó không có căn cứ để điều tra, xử lý.

Đối với Hà Văn K là người gọi và hẹn mua ma túy của bị cáo Cầm Văn D như bị cáo đã khai. Quá trình điều tra xác định: Do việc mua bán chưa thực hiện nên không có căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với K. Kiểm tra, xác định K dương tính với chất ma túy. Ghi nhận Ngày 06/5/2021, Cơ quan CSĐT Công an huyện Phù Yên đã đề nghị Công an xã TP, huyện Phù Yên áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với Hà Văn K, xét là thỏa đáng, đúng quy định. Do đó không đề cập đến việ giải quyết.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo cho việc thi hành án.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm p khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Cầm Văn D phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.

Xử phạt Cầm Văn D 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/5/2021. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

2. Về vật chứng: Căn cứ điểm b, c khoản 1, 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Ghi nhận việc Cơ quan CSĐT Công an huyện Phù Yên đã làm thủ thục trả lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Sirius mang biển kiểm soát 26B1-852.24, cho ông Cầm Văn N quản lý, sử dụng.

Tuyên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu VIVO V2026 màu đen, cũ đã qua sử dụng.

Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) phong bì đã được niêm phong bên trong gồm: 03 túi nilon đựng chất nghi là ma túy, ký hiệu lần lượt là Đ2 = 0,789 gam, Đ4= 2,546 gam, Đ6= 0,94 gam + 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu khi bắt quả tang đã bóc mở + 07 mảnh giấy trắng có chữ in; 01 (Một) chiếc túi vải đeo chéo nhãn hiệu BAISERN, màu tím than có ngăn đã qua sử dụng; 01 (Một) cân tiểu ly điện tử nhãn hiệu POCKET SCANLE FEM màu đen cũ qua sử dụng.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 02/8/2021 giữa Công an huyện Phù Yên và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phù Yên ).

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Cỡ chữ