- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hữu T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P T NH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 84/2021/HS-ST Ngày 12-11-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, T NH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hữu Duyên.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Nga;
Bà Lê Thị h ng Dung.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thu Thảo – Th ký Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Bình D ng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Tống hi Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện P, tỉnh Bình D ng xét xử s thẩm công khai vụ án hình sự s thẩm thụ lý số: 97/2021/TLST-HS ngày 22 tháng 10 năm 2021 theo Quyết định đ a vụ án ra xét xử số: 88/2021/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 10 năm 2021 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Hữu T, sinh ngày 29 tháng 7 năm 1994 tại tỉnh Bình D ng; n i c trú: p 3, xã TH, huyện P, tỉnh Bình D ng; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn M (đã chết) và bà Huỳnh Thị Tuyết H, sinh năm 1963; tiền án: Không; tiền sự: Không;
Nhân thân:
- Căn cứ Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 35/QĐ-XPVPHC ngày 24/10/2014 của Công an xã TH, huyện P xử phạt bị cáo về hành vi “Cố ý gây th ng tích” với số tiền 1.500.000 đồng. Bị cáo đã chấp hành xong theo Biên lai thu ngày 24/10/2014 tại Ngân hàng Nông nghiệp và hát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh huyện P.
- Ngày 09/3/2015, bị Công an huyện P khởi tố vụ án, khởi tố bị can về tội “Cố ý gây th ng tích” theo khoản 1 Điều 104 của Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009. Ngày 17/4/2015, bị hại rút đ n yêu cầu khởi tố vụ án hình sự. Ngày 21/4/2021, C quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P ra quyết định đình chỉ điều tra đối với Nguyễn Hữu T. Ngày 21/4/2015, Công an huyện P ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 47/QĐ-X V HC về hành vi xâm hại đến sức khỏe của ng ời khác xử phạt 2.500.000 đồng. Bị cáo đã chấp hành xong theo Biên lai thu ngày 21/4/2015 tại Ngân hàng Nông nghiệp và hát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh huyện P.
- Căn cứ Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đ a vào c sở cai nghiện bắt buộc số 90/QĐ-TA ngày 28/12/2016 của Tòa án nhân dân thành phố TDM chấp hành tại c sở cai nghiện bắt buộc là 14 tháng. Bị cáo chấp hành xong theo Giấy chứng nhận số 04/GCN-CS ngày 04/01/2018 của C sở cai nghiện ma túy tỉnh Bình D ng.
- Căn cứ Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 06 ngày 13/01/2020 của Công an huyện P xử phạt Nguyễn Hữu T về hành vi trộm cắp tài sản với số tiền 1.500.000 đồng. Bị cáo đã nộp số tiền trên theo Biên lai thu ngày 06/02/2020 tại Ngân hàng Nông nghiệp và hát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh huyện P.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/7/2021 cho đến nay; có mặt.
- gư i c quyền l i, ngh a liên quan:
1. Ông Nguyễn Hữu T1, sinh năm 1992; n i c trú: p 3, xã TH, huyện P, tỉnh Bình D ng; ngày 08/10/2021, ông T1 làm đ n xin xét xử vắng mặt; vắng mặt.
2. Ông L ng Văn M1, sinh năm 1977; n i c trú: p 3, xã TH, huyện P, tỉnh Bình D ng; ngày 08/10/2021, ông M1 làm đ n xin xét xử vắng mặt; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ s vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đ ợc tóm tắt nh sau:
Bị cáo Nguyễn Hữu T là đối t ợng nghiện ma túy loại heroin và ma túy đá từ năm 2017. Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 24/7/2021, Công an xã TH tuần tra trên đoạn đ ờng ĐH 507 thuộc ấp 6, xã TH, huyện P, tỉnh Bình D ng phát hiện đối t ợng Nguyễn Hữu T1 đang điều khiển xe mô tô biển số 61H4 - 1341 chở phía sau Nguyễn Hữu T có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng xe kiểm tra hành chính. Khi lực l ợng Công an xã TH, huyện P đang tiến hành kiểm tra thì T lấy từ trong túi quần jean một bịch nilon hàn kín bên trong chứa ma túy ném xuống lề đ ờng nh ng bị lực l ợng Công an xã TH, huyện P phát hiện bắt quả tang, thu giữ bịch nilon hàn kín chứa ma túy và niêm phong vật chứng theo theo quy định. Tiến hành khám xét khẩn cấp nhà T, C quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P không thu giữ gì thêm.
Quá trình điều tra, T khai nhận số ma túy trên do một ng ời bạn ngoài xã hội tên “T cọp” (không rõ nhân thân lai lịch) cho vào ngày 30/6/2021, T bỏ bịch ma túy vào trong túi quần jean mà T đang mặc rồi mang về nhà cất giấu. Từ đầu tháng 7 đến tr ớc ngày 24/7/2021, T không sử dụng ma túy của T Cọp cho mà sử dụng ma túy loại Heroin của T mua tại bến xe Bình D ng của ng ời đàn ông (không rõ nhân thân lai lịch). Đến ngày 24/7/2021, T mặc lại chiếc quần jean có cất giấu bịch nilon bên trong chứa ma túy đi cùng Nguyễn Hữu T1 nh ng T1 không biết T tàng trữ trái phép chất ma túy. Khi T1 điều khiển xe đến đoạn đ ờng ĐH 507 thuộc ấp 6, xã TH, huyện P thì bị lực l ợng Công an bắt quả tang. Tại C quan Cảnh sát điều tra, T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Bản kết luận giám định số 482/MT- C09 ngày 27/7/2021 của hòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình D ng kết luận: Mẫu vật giám định là ma túy, có khối l ợng 0,1818 gam, loại Methamphetamine.
Quá trình điều tra, C quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P tạm giữ:
- 01 (một) bịch nilon hàn kín bên trong chứa ma túy đ ợc niêm phong trong một bì th có hình dấu mộc đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình D ng có khối l ợng sau giám định là 0,1155 gam.
- 01 (một) xe mô tô biển số 61H4 - 1341, số khung 642564, số máy 10142564. Quá trình điều tra xác định, xe mô tô trên do ông L ng Văn M1 đứng tên chủ sở hữu nh ng đã bán cho một ng ời đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) vào năm 2013, kèm theo giấy đăng ký xe. Nguyễn Hữu T1 khai xe mô tô trên mua lại của ng ời đàn ông tên T3 (không rõ nhân thân, lai lịch) vào năm 2014 với giá 1.500.000 đồng nh ng không làm hợp đồng mua bán, không có giấy đăng ký xe. C quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P đã đăng báo theo quy định.
Tại bản Cáo trạng số 96/CT-VKSPG ngày 20/10/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện P truy tố bị cáo Nguyễn Hữu T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P tham gia phiên toà trình bày lời luận tội trong đó có nội dung vẫn giữ nguyên quyết định cáo trạng đã truy tố, đánh giá tính chất mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo gây ra và các tình tiết tăng nặng, giảm nh trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo Nguyễn Hữu T mức hình phạt từ 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.
Về xử lý vật chứng:
01 (một) bịch nilon hàn kín bên trong chứa ma túy đ ợc niêm phong trong một bì th có hình dấu mộc đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình D ng có khối l ợng sau giám định là 0,1155 gam. Đây là vật chứng vụ án, vật cấm l u hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
01 (một) xe mô tô biển số 61H4 - 1341, số khung 642564, số máy 10142564. Quá trình điều tra, xác định xe mô tô trên do ông L ng Văn M1 đứng tên chủ sở hữu nh ng đã bán cho một ng ời đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) vào năm 2013, kèm theo giấy đăng ký xe. Nguyễn Hữu T1 khai xe mô tô trên mua lại của ng ời đàn ông tên T3 (không rõ nhân thân, lai lịch) vào năm 2014 với giá 1.500.000 đồng nh ng không làm hợp đồng mua bán, không có giấy đăng ký xe. C quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P đã đăng báo theo quy định. Sau 30 ngày kể từ ngày đăng công báo, nếu không có ai liên hệ giải quyết thì đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu nộp ngân sách Nhà n ớc.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Hữu T thừa nhận ngày 24/7/2021 đã tàng trữ trái phép chất ma túy thì bị Công an xã TH, huyện P phát hiện bắt quả tang. Bị cáo thống nhất với kết luận của c quan giám định về khối l ợng, loại chất ma túy, tội danh, mức hình phạt của Viện kiểm sát đề nghị và không có ý kiến khác.
Ông L ng Văn M1 có đ n xin vắng mặt tại phiên tòa, tuy nhiên quá trình điều tra và nội dung đ n xin vắng mặt thể hiện ông đã mua xe mô tô biển số 61H4 - 1341 vào năm 2001 nh ng đã bán cho một ng ời đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) vào năm 2013, kèm theo giấy đăng ký xe nên ông M1 không còn sở hữu xe mô tô trên.
Ông Nguyễn Hữu T1 có đ n xin vắng mặt tại phiên tòa, tuy nhiên quá trình điều tra và nội dung đ n xin vắng mặt thể hiện ông đã mua xe mô tô biển số 61H4 - 1341 vào năm 2014 với giá 1.500.000 đồng nh ng không làm hợp đồng mua bán, không có giấy đăng ký xe. Ông T1 đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Ngoài ra, ông T1 không có ý kiến khác.
Lời nói sau cùng của bị cáo Nguyễn Hữu T: Bị cáo biết tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, bị cáo hối hận về hành vi phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nh hình phạt cho bị cáo để sớm về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên c sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ s vụ án đã đ ợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nh sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của C quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện P, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, ng ời có quyền lợi, ngh a vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của c quan tiến hành tố tụng, ng ời tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của c quan tiến hành tố tụng, ng ời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về sự vắng mặt của ng ời có quyền lợi, ngh a vụ liên quan: Ngày 08/10/2021, ng ời có quyền lợi, ngh a vụ liên quan ông Nguyễn Hữu T1, ông L ng Văn M1 có đ n xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa. Tuy nhiên, ông T1, ông M1 đã có lời khai đầy đủ trong hồ s vụ án và có đ n đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt theo quy định của pháp luật. Xét thấy, việc vắng mặt ng ời có quyền lợi, ngh a vụ liên quan không gây trở ngại cho việc xét xử. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về nội dung vụ án: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Hữu T khai nhận: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 24/7/2021, tại đoạn đ ờng ĐH 507 thuộc ấp 6, xã TH, huyện P, tỉnh Bình D ng, Công an xã TH kiểm tra bắt quả tang Nguyễn Hữu T có hành vi tàng trữ trái phép 0,1818 gam ma túy, loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng.
Căn cứ Kết luận giám định số 482/MT- C09 ngày 27/7/2021 của hòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình D ng kết luận: Mẫu vật giám định là ma túy, có khối l ợng 0,1818 gam, loại Methamphetamine.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Hữu T tàng trữ trái phép chất ma túy có trọng l ợng 0,1818 gam (loại Methamphetamine) nhằm mục đích sử dụng đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện P truy tố bị cáo Nguyễn Hữu T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là đúng ng ời, đúng tội và đúng pháp luật. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.
Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội; nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nh trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà n ớc về chất ma túy, gây tổn hại đến sức khỏe của bản thân bị cáo mà còn gây mất an ninh, trật tự tại địa ph ng, nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm và các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm khác.
Xét động c , mục đích phạm tội vì thỏa mãn nhu cầu sử dụng của cá nhân, bị cáo đã bất chấp pháp luật, hậu quả gây ra cho xã hội để thực hiện hành vi phạm tội. Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt bị cáo t ng xứng với tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo gây ra.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự của bị cáo nh thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, đã chấp hành các quyết định xử phạt hành chính, đã bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đ a vào c sở cai nghiện bắt buộc lại tiếp tục phạm tội.
Xét ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh, điều khoản áp dụng, mức hình phạt, các tình tiết tăng nặng, giảm nh trách nhiệm hình sự đối với bị cáo là phù hợp, có căn cứ chấp nhận.
Đối với ng ời đàn ông tên T3 Cọp cho bị cáo T ma túy để sử dụng hiện ch a rõ nhân thân lai lịch, C quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P xác minh, làm rõ xử lý sau là phù hợp.
Về xử lý vật chứng:
- 01 (một) bì th có ký hiệu 482/ C09 sau giám định có khối l ợng 0,1155 gam niêm phong có dấu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình D ng, có chữ ký của Nguyễn Hữu T, Đào Vũ. Đây là vật chứng vụ án, vật cấm l u hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
- 01 (một) xe mô tô biển số 61H4 - 1341, số khung 642564, số máy 10142564 (xe bị vỡ dàn mủ, không kính chiếu hậu, không kiểm tra bên trong máy). Quá trình điều tra, xác định xe mô tô trên do ông L ng Văn M1 đứng tên chủ sở hữu nh ng đã bán cho một ng ời đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) vào năm 2013, kèm theo giấy đăng ký xe. Ông Nguyễn Hữu T1 khai xe mô tô trên mua lại của ng ời đàn ông tên T3 (không rõ nhân thân, lai lịch) vào năm 2014 với giá 1.500.000 đồng nh ng không làm hợp đồng mua bán, không có giấy đăng ký xe. C quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P đã đăng báo theo quy định nh ng không có ai đến liên hệ giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử sẽ tịch thu nộp ngân sách Nhà n ớc.
Về án phí hình sự s thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 47; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Th ờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù đ ợc tính từ ngày 24/7/2021.
3. Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bì th có ký hiệu 482/ C09 sau giám định có khối l ợng 0,1155 gam niêm phong có dấu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình D ng, có chữ ký của Nguyễn Hữu T, Đào Vũ.
Tịch thu, nộp ngân sách Nhà n ớc 01 (một) xe mô tô biển số 61H4 – 1341, số khung 642564, số máy 10142564 (xe bị vỡ dàn mủ, không kính chiếu hậu, không kiểm tra bên trong máy).
Các vật chứng trên đ ợc l u giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện P theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 22/10/2021.
4. Về án phí hình sự s thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Hữu T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng).
Bị cáo có mặt tại phiên tòa đ ợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (m ời lăm) ngày kể từ ngày Tòa tuyên án.
Ng ời có quyền lợi, ngh a vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa đ ợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (m ời lăm) ngày kể từ ngày nhận đ ợc bản án của Tòa án hoặc bản án đ ợc niêm yết theo quy định pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình D ng; 01 - Sở T pháp tỉnh Bình D ng; 01 - VKSND tỉnh Bình D ng; 01 - V06 Công an tỉnh Bình D ng; 01 - VKSND H. P; 01 - CQ CSĐT Công an H.P; 01 - Đội CSTHAHS và HTT ; 01 - Chi cục THADS H.P; 01 - Bị cáo; ng ời tham gia tố tụng; 03 - L u hồ s vụ án, Văn phòng. 02 | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tr n H u Du n |