vanban.org

Bản án 84/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An Tuyên án 31/12/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và điều luật áp dụng: Tuyên bố bị cáo Lưu Văn C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu và tiêu hủy: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán và chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và điều luật áp dụng: Tuyên bố bị cáo Lưu Văn C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NĐ
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 84/2021/HS-ST
Ngày: 31 – 12 - 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NĐ, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vương Hoàng Hào.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phan Đình Nguyện.

Bà Nguyễn Thị Thu Hiền.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Huyền Trang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện NĐ, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện NĐ, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Đặng Trường Sơn. Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện NĐ, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 79/2021/TLST-HS, ngày 03 tháng 12 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 84/2021/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 12 năm 2021 đối với bị cáo:

- Họ và tên: Lưu Văn C. Tên gọi khác: Không. Sinh năm 1986 tại huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Xóm 1, xã NL, huyện NĐ, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lưu Minh Đường, sinh năm 1966 và bà Nguyễn Thị Nhì, sinh năm 1969; Vợ: Trần Thị Trang và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/10/2021 cho đến nay. Có mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Trịnh Dương T. Sinh năm 1985. Nơi cư trú: Xóm Yên Quả, xã HT, huyện NĐ, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

- Người làm chứng: Anh Thái Phi K. Sinh năm 1993. Nơi cư trú: Xóm 5, xã Hưng Chính, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 09 giờ 45 phút, ngày 12/10/2021, Trịnh Dương T gọi điện thoại di động cho Lưu Văn C hỏi mua 200.000 đồng ma túy đá để sử dụng thì Cường đồng ý và hẹn ra nhà riêng của mình lấy. Khoảng 10 giờ cùng ngày, Thắng đến phòng ngủ của nhà Cường. Tại đây, Thắng đưa 200.000 đồng cho Cường cầm, Cường lại tủ quần áo lấy một bộ sử dụng ma túy đá (cóng) và một gói ma túy cất dấu sẵn đưa ra để ở giường ngủ. Cường lấy ma túy vừa bán cho Thắng đồng thời Thắng xin cho sử dụng ma túy tại phòng ngủ thì Cường đồng ý. Cường lấy ma túy vừa bán đổ hết vào cóng thủy tinh, dùng bật lửa đốt lên rồi Cường và Thắng cùng nhau sử dụng. Khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, khi cả hai đang sử dụng thì bị Công an huyện NĐ phát hiện, kiểm tra, lập biên bản và thu toàn bộ tang vật liên quan. Tại Công an huyện NĐ, Lưu Văn C có đơn xin tự đầu thú về hành vi phạm tội của mình.

Tại bản kết luận kết luận giám định số: 1402/KL-PC09(Đ2-MT) ngày 16/10/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Nghệ An kết luận: “Chất kết tinh màu trắng vàng bám dính trong cóng thủy tinh thu giữ của Lưu Văn C gửi tới giám định là ma túy (Methamphetamine)”.

Cáo trạng số: 02/CT-VKSNĐ ngày 02/12/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện NĐ truy tố Lưu Văn C về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 và tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 256 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung cáo trạng, luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Bị cáo Lưu Văn C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; khoản 1 Điều 256; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38, 55 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Lưu Văn C mức án từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Mức án từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt của hai tội buộc bị cáo chấp hành mức án từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng.

Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu và tiêu hủy:

- 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá thu giữ của Lưu Văn C được niêm phong trong một bìa cát tông được dán kín, dùng giấy niêm phong có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong và đóng dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An theo quy định.

Tịch thu và nộp ngân sách Nhà nước:

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A31, vỏ màu đen, máy đã qua sử dụng, màn hình bị vỡ, chất lượng không kiểm tra có gắn thẻ sim số 0359757557 đã qua sử dụng, chất lượng không kiểm tra thu giữ của Lưu Văn C.

- Số tiền Việt Nam 200.000 đồng thu giữ của Lưu Văn C hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện NĐ theo giấy ủy nhiệm chi ngày 06/12/2021 của Công an huyện NĐ.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Tại phiên tòa, bị cáo Lưu Văn C đồng ý với nội dung bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo không có tranh luận gì. Bị cáo nói lời nói sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để sớm về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện NĐ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện NĐ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

Về việc vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm chứng. Xét thấy việc vắng mặt này không ảnh hưởng đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử là có căn cứ, đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Lưu Văn C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với các tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 10 giờ 00 phút, ngày 12/10/2021, tại phòng ngủ nhà của Lưu Văn C thuộc xóm 1, xã NL, huyện NĐ, tỉnh Nghệ An. Lưu Văn C đã có hành vi bán một gói ma túy (Methamphetamine) cho Trịnh Dương T với số tiền 200.000 đồng. Sau đó, Cường có hành vi chứa chấp cho Trịnh Dương T sử dụng ma túy trái phép tại phòng ngủ nhà mình. Hành vi của bị cáo Lưu Văn C đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 và khoản 1 Điều 256 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Xét tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quy định về quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy. Làm mất trật tự an toàn xã hội trên địa bàn. Là nguồn gốc phát sinh các loại tội phạm, tệ nạn xã hội khác. Xét thấy: Cần lên một mức án nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo riêng bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo đầu thú về hành vi phạm tội. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, do đó khi quyết định hình phạt nên xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy, không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền.

Về xử lý vật chứng:

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A31, vỏ màu đen, máy đã qua sử dụng, màn hình bị vỡ, chất lượng không kiểm tra có gắn thẻ sim số 0359757557 dùng để liên lạc thực hiện hành vi phạm tội, còn giá trị sử dụng cần tịch thu và nộp ngân sách Nhà nước.

- 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá thu giữ của Lưu Văn C được niêm phong trong một bìa cát tông được dán kín, dùng giấy niêm phong có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong và đóng dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An theo quy định. Là vật chứng liên quan đến hành vi phạm tội, không còn giá trị sử dụng cần tịch thu và tiêu hủy.

- Số tiền Việt Nam 200.000 đồng thu giữ của Lưu Văn C hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện NĐ theo giấy ủy nhiệm chi ngày 06/12/2021 của Công an huyện NĐ. Số tiền này do hành vi phạm tội mà có, cần tịch thu và nộp ngân sách Nhà nước.

Hành vi liên quan:

Đối với Trịnh Dương T mua ma túy và sử dụng trái phép chất ma túy chưa đến mức xử lý hình sự nên Công an huyện NĐ đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là có căn cứ, đúng quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Lưu Văn C, Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra, xác minh, khi nào có kết quả sẻ xử lý sau.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Các đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện NĐ tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và điều luật áp dụng: Tuyên bố bị cáo Lưu Văn C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; khoản 1 Điều 256, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38, Điều 55 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lưu Văn C: 02 (hai) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; 02 (hai) năm tù về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt của hai tội buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 04 (bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/10/2021.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu và tiêu hủy:

- 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá thu giữ của Lưu Văn C được niêm phong trong một bìa cát tông được dán kín, dùng giấy niêm phong có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong và đóng dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An theo quy định.

(Đặc điểm, tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 03/12/2021 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện NĐ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện NĐ, tỉnh Nghệ An).

Tịch thu và nộp ngân sách Nhà nước:

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A31, vỏ màu đen, máy đã qua sử dụng, màn hình bị vỡ, chất lượng không kiểm tra có gắn thẻ sim số 0359757557 đã qua sử dụng, chất lượng không kiểm tra thu giữ của Lưu Văn C.

(Đặc điểm, tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 03/12/2021 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện NĐ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện NĐ, tỉnh Nghệ An).

- Số tiền Việt Nam 200.000 đồng thu giữ của Lưu Văn C hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện NĐ theo giấy ủy nhiệm chi ngày 06/12/2021 của Công an huyện NĐ.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Lưu Văn C phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án đến Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Cỡ chữ