vanban.org

Bản án 84/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình Tuyên án 26/08/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyªn bè: BÞ cáo Hoàng Văn H ph¹m téi “Tµng tr÷ tr¸i phÐp chÊt ma tuý”.

¸p dông điểm c khoản 1 Điều 249; ®iÓm s kho¶n 1 §iÒu 51; ĐiÒu 38; Điều 50 Bộ luật hình sự. Xử ph¹t bị cáo H 02 (hai) năm tù, thêi h¹n tï tÝnh tõ ngµy b¾t t¹m gi÷ 23-4-2021. VÒ xö lý vËt chøng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu để tiêu huỷ toàn bộ số ma túy, … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Hoàng Văn H - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyªn bè: BÞ cáo Hoàng Văn H ph¹m téi “Tµng tr÷ tr¸i phÐp chÊt ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HƯNG HÀ
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 84/2021/HS-ST
Ngày 26-8-2021.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ - TỈNH THÁI BÌNH

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Nhàn

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đinh Trọng Thanh

2. Ông Tống Xuân Tú

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Mai - Thư ký Toà án nhân dân huyện H, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H - tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Hoài Thu - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 8 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Thái Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 76/2021/TLST-HS ngày 05 tháng 8 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 83 /2021/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 8 năm 2021 đối với bị cáo:

Hoàng Văn H, sinh năm 1976.

Nơi cư trú: thôn Việt Th, xã H, huyện H, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn Q và bà Nguyễn Thị L (Đã chết); có vợ Bùi Thị Ng và 02 con, con lớn sinh năm 1998, con nhỏ sinh năm 2000; nhân thân: Ngày 19-12-2012 bị Tòa án nhân dân huyện H xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Ngày 12-6-2014 bị Tòa án nhân dân huyện H xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (đã được xoá án tích); tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 23-4-2021, đến ngày 29-4-2021 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Bình “có mặt”.

Những người làm chứng:

1. Anh Trần Văn T, sinh năm 1982 (vắng mặt).

2. Anh Nguyễn Văn Y, sinh năm 1964 (vắng mặt).

3. Ông Nguyễn Cao Đ, sinh năm 1946 (vắng mặt). Đều trú tại: Thôn T, xã M, huyện H, tỉnh Thái Bình.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 23-4-2021, Hoàng Văn H đang ở nhà thì có Trần Đình Ph là bạn của H (là người nghiện ma tuý) đến rủ đi mua ma túy về cùng nhau sử dụng, H đồng ý. Ph điều khiển xe mô tô của Ph chở H đến khu vực có một cây cầu (không rõ địa danh cụ thể) thuộc huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình, Ph dừng xe bảo H xuống đứng đợi và Ph điều khiển xe đi mua ma túy. Khoảng 05 phút sau, Ph quay lại, đưa cho H 02 gói giấy tráng kim màu trắng, H biết bên trong là ma túy nên đã cầm giữ hai gói ma tuý trên ở lòng bàn tay trái Ph điều khiển xe chở H về huyện H tìm nơi sử dụng. Khi đến cửa một hiệu thuốc tân dược thuộc địa phận Thôn T, xã M, huyện H, Ph dừng xe để H vào mua xilanh và nước cất để sử dụng ma tuý thì bị tổ công tác Công an huyện H phát hiện bắt quả tang, Ph đã điều khiển xe bỏ chạy. Kiểm tra, thu giữ tại lòng bàn tay trái của H 02 gói tráng kim màu trắng, mở kiểm tra bên trong có chứa chất bột màu trắng dạng cục, H khai nhận đó là ma túy, loại Hêrôin, mục đích để sử dụng. Tổ công tác Công an huyện H đã thu giữ và niêm phong 02 gói ma túy trên trước sự chứng kiến của những người làm chứng. Khám xét khẩn cấp chỗ ở của H, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H không thu giữ đồ vật, tài sản gì.

Tại bản kết luận giám định số 130/KLGĐMT-PC09 ngày 26-4-2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình, kết luận: Mẫu gửi giám định là ma túy, loại Heroine (Hêrôin), có khối lượng 0,2157 gam (không phẩy hai nghìn một trăm năm mươi bảy gam).

Bản cáo trạng số 84/CT- VKSHH ngày 04-8-2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự (BLHS).

Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của bị cáo như nội dung bản cáo trạng đã nêu.

Tại phiên tòa không phát sinh tình tiết mới, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX): Tuyên bố bị cáo H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 BLHS; xử phạt bị cáo H từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù; về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo H; Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì còn nguyên niêm phong số 130/KLGĐMT-PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình. Bị cáo H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo H không tranh luận gì và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, HĐXX nhận định như sau:

Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an huyện H, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Những người làm chứng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa nhưng vắng mặt. Xét thấy tại giai đoạn điều tra họ đã có lời khai đầy đủ có trong hồ sơ vụ án nên sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử, vì vậy Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 293 của BLTTHS.

Về tội danh: Xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu chứng cứ sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang (Bút lục từ số 27 đến số 30); biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ (Bút lục số 31); bản kết luận giám định số 130/KLGĐMT-PC09 ngày 26-4-2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình (Bút lục số 40); biên bản ghi lời khai của những người làm chứng: anh Trần Văn T, anh Nguyễn Văn Y và ông Nguyễn Cao Đ (Bút lục từ số 60 đến số 71). Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Hồi 08 giờ 55 phút ngày 23-4-2021 tại đoạn đường ĐT 452 thuộc địa phận Thôn T, xã M, huyện H, Hoàng Văn H có hành vi tàng trữ trái phép 0,2157 ma túy, loại Hêrôin, mục đích để sử dụng. Hành vi của bị cáo thực hiện đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.

Điều 249: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) …

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

d)…

Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: Hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý mà bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quy định độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Bị cáo có đầy đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi của mình, nhận thức rõ ma túy là chất gây nghiện, gây tác hại nghiêm trọng đến sức khỏe con người, làm suy kiệt kinh tế gia đình, đồng thời ma túy cũng là nguyên nhân của rất nhiều loại tội phạm khác, gây mất trật tự xã hội. Nhà nước đã nghiêm cấm mọi hành vi tàng trữ, vận chuyển, mua bán…trái phép chất ma túy, nhưng do mắc nghiện ma túy nên bị cáo vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội. BÞ cáo không bị áp dông t×nh tiÕt t¨ng nÆng tr¸ch nhiÖm h×nh sù theo quy định tại ĐiÒu 52 BLHS, quá trình điều tra và t¹i phiªn toµ bị cáo thành khẩn khai báo, nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS, bị cáo có nhân thân xấu. Vì vậy, Hội đồng xét xử, xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù theo quy định của khung hình phạt, cách ly bị cáo khỏi cuộc sống xã hội một thời gian nhất định, mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Bị cáo mắc nghiện ma túy, mục đích tàng trữ trái phép ma túy là để sử dụng cho bản thân, không có thu nhập, do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về nguồn gốc ma túy Hoàng Văn H khai: 0,2157 ma túy, loại Hêrôin Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H thu là của anh Ph (con ông Q) nhà ở xã Th, huyện H đưa cho bị cáo cất giấu để cùng nhau sử dụng, khi H bị bắt thì Ph đã bỏ chạy. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H đã tiến hành điều tra và xác định tại thôn D, xã Th, huyện H có anh Trần Đình Ph, sinh năm 1992 (con ông Trần Văn S). Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện đã nhiều lần triệu tập Ph đến trụ sở Công an làm việc nhưng Ph không có mặt tại địa phương (không ai biết đi đâu, làm gì). Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện tách ra tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ và xử lý theo quy định của pháp luật.

Về xử lý vật chứng: Toàn bộ số ma túy, loại heroin còn lại sau giám định thu của bị cáo H trong phong bì niêm phong số 130/KLGĐ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình là vật cấm lưu hành, cần tịch thu để tiêu huỷ.

Bị cáo H phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Từ các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyªn bè: BÞ cáo Hoàng Văn H ph¹m téi “Tµng tr÷ tr¸i phÐp chÊt ma tuý”.

2. ¸p dông điểm c khoản 1 Điều 249; ®iÓm s kho¶n 1 §iÒu 51; ĐiÒu 38; Điều 50 Bộ luật hình sự. Xử ph¹t bị cáo H 02 (hai) năm tù, thêi h¹n tï tÝnh tõ ngµy b¾t t¹m gi÷ 23-4-2021.

3. VÒ xö lý vËt chøng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu để tiêu huỷ toàn bộ số ma túy, loại heroin còn lại sau giám định thu của bị cáo H trong phong bì niêm phong số 130/KLGĐ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình (Vật chứng trên do Chi cục Thi hành án dân sự huyện H, tỉnh Thái Bình đang quản lý).

4. VÒ ¸n phÝ: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khóa 14, bÞ c¸o H ph¶i nộp 200.000 đồng tiÒn ¸n phÝ h×nh sù s¬ thÈm.

5. BÞ c¸o H cã quyÒn kh¸ng c¸o trong thêi h¹n 15 ngµy kÓ tõ ngµy tuyªn ¸n.

* Nơi nhận:

Cỡ chữ