vanban.org

Bản án 84/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Cư M'Gar, tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 23/11/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]. Tuyên bố: Bị cáo Bùi Quốc D phạm tội “Đánh bạc”

Xử phạt bị cáo Bùi Quốc D 01 một năm cải tạo không giam gi . Th i gian cải tạo không giam gi t nh t ngày Ủy ban nhân dân x Q, huyện C, tỉnh Đắk Lắk nhận đư c bản sao bản án và Quyết định thi hành án. Giao bị cáo Bùi Quốc D cho Ủy ban nhân dân xã Q, huyện C, tỉnh Đắk Lắk giám sát, giáo dục trong thời… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Quốc D đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1]. Tuyên bố: Bị cáo Bùi Quốc D phạm tội “Đánh bạc”
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 100 Luật Thi hành án hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CƯM’GAR

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐĂK LĂK
Bản án số: 84/2021/HS - ST
Ngày: 23 – 11 - 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯM’GAR, TỈNH ĐĂKLĂK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Huyền Diệu

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Bùi Trọng Nghĩa

2. Ông Hoàng Duy Thanh

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trung – Thư ký Tòa án nhân dân huyện CưM’gar.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CưM’gar tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuấn - Kiểm sát viên

Ngày 23 tháng 11 năm 2020 tại phòng xét xử Tòa án nhân dân huyện CưM’gar, tỉnh ĐăkLăk, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 83/2021/TLST - HS ngày 02 tháng 11 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 78/2021/QĐXXST - HS ngày 08 tháng 11 năm 2021 đối với bị cáo:

Họ và tên: Bùi Quốc D

Sinh ngày: 12 tháng 5 năm 1964 tại tỉnh T;

Nơi cư trú: Thôn H, xã Q, huyện C, tỉnh Đắk Lắk;

Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 7/10; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Bá H đ chết và con bà Hà Thị T, sinh năm: 1947, c v là Trần Thị A, sinh năm: 1973 và c 02 con, con lớn sinh năm: 1994, con nhỏ sinh năm: 1997; Tiền án: Không;

Tiền sự: 01 tiền sự ngày 22/01/2021 bị Công an x Quảng Hiệp, huyện ưM’gar xử phạt vi phạm hành ch nh b ng hình th c phạt tiền, số tiền 1.690.000 đ ng về hành vi đánh bạc, bị cáo đ nộp đủ);

Bị cáo đang tại ngoại tại thôn H, xã Q, huyện C, tỉnh Đắk Lắk; c mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

+ Bà Trần Thị A, sinh năm 1973 vắng mặt

Địa chỉ: thôn H, xã Q, huyện C, tỉnh Đắk Lắk

+ Ông Trần A1, sinh năm 1977 c mặt

Địa chỉ: thôn H, xã Q, huyện C, tỉnh Đắk Lắk

+ Ông Phạm Văn H1, sinh năm 1986 vắng mặt

Địa chỉ: thôn H, xã Q, huyện C, tỉnh Đắk Lắk

+ Ông Bùi Ngọc V, sinh năm 1964 vắng mặt

Địa chỉ: Thôn B, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu c trong h sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đư c t m tắt như sau:

Sáng ngày 29/8/2021, Bùi Quốc D thuê Trần A1, Phạm Văn H1 và Bùi Ngọc V đi làm cỏ tại r y của gia đình D ở thôn B, x E, huyện . Đến khoảng 16 gi cùng ngày, do tr i mưa nên tất cả vào trong chòi r y của gia đình D để trú mưa. Thấy trong chòi r y c 01 bộ bài tú lơ khơ nên cả nh m rủ nhau đánh bạc b ng hình th c đánh bài tiến lên đư c thua b ng tiền Việt Nam Đ ng.

Hình th c đánh bạc như sau: Ngư i chơi sử dụng bộ bài tú lơ khơ 52 lá, quy định th tự t nhỏ đến lớn là 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, J, Q, K, A, 2. M i ngư i đư c chia 13 lá bài. Ván bài đầu tiên ai c lá bài 3 b ch thì đư c đánh trước, các ván bài tiếp theo ai về nhất ván liền kề thì đư c chia bài và đư c đánh bài trước. Ngư i về nhất thắng 10.000 đ ng, ngư i về nhì thắng 5.000 đ ng, ngư i về ba thua 5.000 đ ng và ngư i về cuối thua 10.000 đ ng. Bài của ai c sảnh t 3 tới A hoặc c 06 đôi hai quân bài cùng giá trị thì đư c ăn trắng và thắng đư c 30.000 đ ng nh ng ngư i còn lại thua 10.000 đ ng và chung cho ngư i ăn trắng . Quy định 04 đôi thông 04 đôi tạo thành sảnh đư c chặt 04 đôi thông nhỏ hơn, chặt t quý 04 quân bài cùng giá trị , chặt 2 hoặc đôi 2. T quý đư c chặt 01 lá bài 2. Ngư i nào bị chặt 2 đỏ cơ, rô thì thua 10.000 đ ng, ngư i chặt thắng 10.000 đ ng, tương tự ngư i nào bị chặt 2 đen chu n, b ch thì thua 5.000 đ ng. Ngư i về cuối mà trong các quân bài chưa đánh c bốn đôi thông, t quý, 2 thì gọi là thối và phA1 chung số tiền tương ng 04 đôi thông quy đ i thành đôi 2 đỏ là 20.000 đ ng, t quý quy đ i thành một lá bài 2 đỏ là 10.000 đ ng, lá bài 2 đen t nh 5.000 đ ng .

Đến khoảng 19 gi cùng ngày, khi Bùi Quốc D, Trần A1, Phạm Văn H1, Bùi Ngọc V đang đánh bạc dưới hình th c đánh bài tiến lên như đ nêu trên thì bị Công an x EaM’nang phát hiện lập biên bản phạm pháp quả tang. Thu gi số tiền sử dụng để đánh bạc là 2.200.000 đ ng cùng một số công cụ, phương tiện sử dụng để đánh bạc.

Tại cơ quan điều tra các đối tư ng khai nhận: Bùi Quốc D mang theo số tiền 1.100.000 đ ng sử dụng để đánh bạc, D tham gia đánh nhiều ván, đến khi bị bắt quả tang thì còn 160.000 đ ng để trên chiếu bạc. Phạm Văn H1 mang theo 200.000 đ ng sử dụng để đánh bạc, H1 tham gia đánh nhiều ván, đến khi bị bắt quả tang thì c 220.000 đ ng để trên chiếu bạc gần vị tr ng i. Bùi Ngọc V mang theo số tiền 300.000 đ ng sử dụng để đánh bạc, V tham gia đánh nhiều ván, đến khi bị bắt quả tang thì còn 20.000 đ ng để trên chiếu bạc. Trần A1 mang theo số tiền 600.000 đ ng sử dụng để đánh bạc, tham gia đánh nhiều ván, đến khi bị bắt quả tang thì thắng đư c 1.200.000 đ ng 800.000 đ ng để trên chiếu bạc, 1.000.000 đ ng để trong ngư i .

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 87/KL-HĐĐGTS ngày 13/10/2021 của Hội đ ng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện ưM’gar kết luận: Căn chòi r y của Bùi Quốc D, giá trị còn lại: 4.652.000 đ ng

Tại bản cáo trạng số: 83/KT -VKS ngày 01 tháng 11 năm 2021 Viện kiểm sát nhân dân huyện CưM’gar đ truy tố bị cáo Bùi Quốc D phạm tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CưM’gar đ đánh giá t nh chất, m c độ hành vi phạm tội của bị cáo; đ ng th i gi nguyên quyết định truy tố bị cáo như nội dung cáo trạng và đưa ra các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo, đề nghị Hội đ ng xét xử tuyên bố bị cáo Bùi Quốc D về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015.

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i,s khoản 1 Điều 51, Điều 36 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Bùi Quốc D t 06 đến 09 tháng cải tạo không giam gi

Về xử lý vật ch ng: Áp dụng khoản 1 Điều 46 khoản 1, 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền số tiền 1.200.000 đ ng thu gi trên chiếu bạc và 1.000.000 đ ng thu gi trên ngư i của Trần A1

- Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ 52 lá, 01 chiếu c i k ch thước 1,2m x 02m; 01 chiếc chăn b ng vải, k ch thước 1,4m x 02m.

- Đối với căn chòi r y Bùi Quốc D sử dụng để đánh bạc tại thôn B, x E, huyện đề nghị truy thu 1/2 giá trị là 2.326.000 đ ng sung ngân sách nhà nước.

- Về khấu tr thu nhập và hình phạt b sung: Miễn cho bị cáo do không c thu nhập n định, hoàn cảnh kinh tế kh khăn do dịch bệnh Covid-19.

Bị cáo, ngư i c quyền l i nghĩa vụ liên quan không c ý kiến đối đáp tranh luận gì, bị cáo chỉ xin Hội đ ng xét xử giảm nhẹ phần hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn c vào các tài liệu trong h sơ vụ án đ đư c thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đ ng xét xử nhận thấy như sau:

T nh h p pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện CưM’gar, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện CưM’gar, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đ thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, ngư i c quyền l i nghĩa vụ liên quan không c ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, ngư i tiến hành tố tụng. Do đ các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, ngư i tiến hành tố tụng đ thực hiện đều h p pháp.

Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi của mình đ thực hiện. Vào khoảng 19 gi 00 ngày 29/8/2021, Bùi Quốc D đ c 01 tiền sự về hành vi đánh bạc cùng với Phạm Văn H1, Bùi Ngọc V, Trần A1 c hành vi đánh bạc dưới hình th c đánh tiến lên đư c thua b ng tiền Việt Nam Đ ng tại thôn B, x E, huyện , tỉnh Đắk Lắk thì bị bắt quả tang. Xác định số tiền dùng để đánh bạc là 2.200.000 đ ng.

Xét l i khai của bị cáo tại phiên tòa là phù h p với cáo trạng, phù h p với l i khai của ngư i c quyền l i nghĩa vụ liên quan cũng như các tài liệu ch ng c thu thập đư c trong h sơ vụ án. Như vậy, đ c đủ căn c kết luận hành vi nêu trên của bị cáo Bùi Quốc D đ phạm vào tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Điều 321 Bộ luật hình sự quy định:

1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cA1 tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về tội danh truy tố, m c hình phạt và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo là c căn c phù h p với pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho x hội, đ trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu nhiều mặt tới cuộc sống bình thư ng của gia đình bị cáo, đ ng th i còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an của địa phương, do đ bị cáo phA1 chịu trách nhiệm hình sự về hành vi đ gây ra.

Bị cáo là ngư i c đủ năng lực hành vi và nhận th c, biết đư c r ng đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình th c nào đư c thua b ng tiền hay hiện vật là vi phạm pháp luật, là tệ nạn x hội mà Nhà nước nghiêm cấm. Song do ý th c coi thư ng pháp luật, th i tham lam tư l i, muốn kiếm tiền b ng con đư ng bất ch nh nên bị cáo đ cố ý thực hiện hành vi phạm tội.

Xét về nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo:

Xét về nhân thân bị cáo c 01 tiền sự: ngày 22/01/2021 bị Công an x Quảng Hiệp, huyện ưM’gar xử phạt vi phạm hành ch nh b ng hình th c phạt tiền, số tiền 1.690.000 đ ng về hành vi đánh bạc. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo, nh m thể hiện ch nh sách khoan h ng nhân đạo của pháp luật Nhà nước ta.

Với t nh chất m c độ hành vi phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo như đ nhận định trên, Hội đ ng xét xử xét thấy bị cáo c nhân thân tốt, c nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi x hội mà chỉ cần áp dụng hình phạt cải tạo không giam gi quy định tại Điều 36 Bộ luật hình sự là phù h p.

Về khấu tr thu nhập và hình phạt b sung: Xét thấy bị cáo thu nhập không n định, hoàn cảnh kinh tế kh khăn nên miễn khấu tr thu nhập và phạt b sung đối với bị cáo theo khoản 3 Điều 36, khoản 3 Điều 321 bộ luật Hình sự.

Về xử lý vật ch ng: Đối với số tiền 1.200.000 đ ng thu gi trên chiếu bạc và 1.000.000 đ ng thu gi trên ngư i của Trần A1, đây là tiền mà bị cáo Bùi Quốc D cùng các đối tư ng sử dụng vào mục đ ch đánh bạc nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.

Đối với 01 bộ bài tú lơ khơ 52 lá, 01 chiếu c i k ch thước 1,2m x 02m; 01 chiếc chăn b ng vA1, k ch thước 1,4m x 02m đây là công cụ các đối tư ng sử dụng để đánh bạc, không c giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy là phù h p với quy định tại khoản 1, 2 Điều 47 Bộ luật hình sự.

Đối với căn nhà tạm c diện t ch 7,5m x 5,5m xếp đá hộc xung quanh m ng, khung g nh m V, vách ván bao che nh m VI, không đ ng trần, mái l p ng i là nơi bị cáo sử dụng để đánh bạc. Giá trị căn nhà tạm là 4.652.000 đ ng xét thấy đây là tài sản chung của bị cáo D và v là Trần Thị A, bà A không biết về hành vi phạm tội của bị cáo nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước 1/2 giá trị căn nhà tạm là là 2.326.000 đ ng.

Trong vụ án này Phạm Văn H1, Bùi Ngọc V, Trần A1 xác định chưa đủ định lư ng và yếu tố cấu thành tội Đánh bạc. Ngày 27/9/2021, Công an huyện CưM’gar ra Quyết định xử phạt vi phạm hành ch nh đối với Phạm Văn H1, Bùi Ngọc V, Trần A1 m i ngư i số tiền 1.500.000 đ ng về hành vi Đánh bạc trái phép, quy định tại điểm a, khoản 2, điều 26, Nghị định 167/2013/NĐ-CP, ngày 12/11/2013 của ch nh phủ là phù h p.

Đối với bà Trần Thị A, khi bị cáo D cùng các đối tư ng đánh bạc tại căn chòi r y thuộc sở h u chung của mình, bà A không biết nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù h p.

Về án ph : Bị cáo Bùi Quốc D phải chịu án ph hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

[1]. Tuyên bố: Bị cáo Bùi Quốc D phạm tội “Đánh bạc”

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 36 Bộ luật hình sự 2015:

Xử phạt bị cáo Bùi Quốc D 01 một năm cải tạo không giam gi . Th i gian cải tạo không giam gi t nh t ngày Ủy ban nhân dân x Q, huyện C, tỉnh Đắk Lắk nhận đư c bản sao bản án và Quyết định thi hành án.

Giao bị cáo Bùi Quốc D cho Ủy ban nhân dân xã Q, huyện C, tỉnh Đắk Lắk giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ, gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú được áp dụng theo Điều 100 Luật Thi hành án hình sự.

Miễn khấu tr thu nhập và phạt b sung b ng tiền cho bị cáo.

[2]. Về xử lý vật ch ng: Áp dụng khoản 1 Điều 46 khoản 1, 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu sung ngân sách Nhà nước cụ thể như sau: Số tiền 1.200.000 đ ng thu gi trên chiếu bạc và 1.000.000 đ ng thu gi trên ngư i của Trần A1.

Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ 52 lá, 01 chiếu c i k ch thước 1,2m x 02m; 01 chiếc chăn b ng vA1, k ch thước 1,4m x 02m.

(Tình trạng và đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan điều tra – Công an huyện Cư M'gar và Chi cục Thi hành án dân sự huyện CưMgar ngày 01/11/2021).

Truy thu sung ngân sách nhà nước 1/2 giá trị căn chòi r y là 2.326.000 đ ng bị cáo Bùi Quốc D đ sử dụng để làm nơi đánh bạc.

[3]. Về án ph : Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và điểm đ, khoản 1 Điều 12, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thư ng vụ Quốc hội quy định về m c thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án ph và lệ ph Tòa án.

Bị cáo Bùi Quốc D phải chịu 200.000 đ ng án ph Hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, ngư i c quyền l i nghĩa vụ liên quan đư c quyền kháng cáo bản án trong th i hạn 15 ngày kể t ngày tuyên án. Ngư i c quyền l i và nghĩa vụ liên quan vắng mặt đư c quyền kháng cáo bản án trong th i hạn 15 ngày kể t ngày nhận đư c bản án hoặc niêm yết bản án h p lệ.

Cỡ chữ