vanban.org

Bản án 84/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình Tuyên án 29/11/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Quyết T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lê Quyết T 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (17/9/2021). Tiếp tục tạm giam bị cáo Lê Quyết T với thời hạn 45 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (29/11/2021) theo quyết định tạm giam của Hội đồng xét xử để đảm bảo thi … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Quyết T- Tàng trữ trái phép chất ma túy Khoản 1 Điều 249 - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Quyết T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BỐ TRẠCH
TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 84/2021/HS-ST
Ngày 29-11-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BỐ TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Trung Thành.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Đình Vang và bà Nguyễn Thùy Hương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhạn - Thư ký Toà án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Ông Phan Mạnh Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 11 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 84/2021/TLST-ST ngày 08 tháng 11 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 91/2021/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2021 đối với bị cáo:

Lê Quyết T; sinh ngày 09 tháng 02 năm 2000 tại huyện B, tỉnh Quảng Bình; nơi cư trú: Thôn Y, xã X, huyện B, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Thanh H và bà Lê Thị L; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/9/2021 cho đến nay; Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Lê Thanh H, sinh năm 1966; địa chỉ: Thôn Y, xã X, huyện Bố B, tỉnh Quảng Bình; Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 19 giờ ngày 16/9/2021, Lê Quyết T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 73F1-486.86 đi đến sân bóng Thôn 3, xã P để hỏi mua ma túy về sử dụng thì gặp một nhóm thanh niên (không rõ danh tính và địa chỉ) đang đứng chơi tại đây. Khi Thắng hỏi mua ma túy thì có một thanh niên trong nhóm hỏi lại T mua bao nhiêu tiền và đồng ý đi mua giúp. T nói mua 500.000 đồng rồi đưa cho thanh niên đó tiền và đứng đợi khoảng 15 phút sau thì người thanh niên này quay lại đưa cho T một gói giấy màu xanh bên trong có 06 viên ma túy loại hồng phiến và T cất gói ma túy vào túi quần rồi điều khiển xe mô tô đi về. Khi đi đến KM 942 trên đường Hồ Chí Minh thì bị lực lượng Công an huyện Bố Trạch kiểm tra, phát hiện và lập biên bản phạm tội quả tang thu giữ trong người Lê Quyết T 06 viên nén hình tròn dạng thuốc tân dược màu hồng và theo lời khai nhận của T đó là số ma túy loại hồng phiến.

Tại bản kết luận giám định số: 1134/GĐ-PC09 ngày 22/9/2021 của Phòng PC09 Công an tỉnh Quảng Bình, kết luận: 06 viên nén hình tròn dạng thuốc tân dược màu hồng, trên một mặt mỗi viên có in chữ “WY” là chất ma túy, loại Methamphetamine, tổng khối lượng 0,608g. Methamphetamine nằm trong danh mục các chất ma túy, số thứ tự: 323, Danh mục II, Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Chính phủ”. (Bút lục số 16, 45, 47, 52-66 ).

Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bố Trạch đã thu giữ một gói giấy màu xanh bên trong có 06 viên nén là chất ma túy loại Methamphetamine, quá trình giám định còn lại 0,51gam được bỏ vào một phong bì thư được dán kín, có số 1134/GĐ-PC09 được đóng dấu niêm phong của Phòng kỷ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình, hiện chưa xử lý. Thu giữ và đã xử lý trả lại cho ông Lê Thanh H (bố của Lê Quyết T) một xe mô tô BKS 73F1-486.86 là tài sản sinh hoạt chung của gia đình bị cáo; trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu đen cho Lê Quyết T do không liên quan đến vụ án. (Bút lục số: 18, 45, 47, 67, 70 ).

Cáo trạng số: 83/CT-VKSBT ngày 08/11/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình truy tố Lê Quyết T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo mức án từ 15 tháng đến 18 tháng tù; không áp dụng phạt tiền bổ sung; tịch thu, tiêu hủy khối lượng ma túy hoàn lại sau giám định và buộc bị cáo phải chịu nộp án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội đã thực hiện như bản cáo trạng đã truy tố nên không tranh luận gì, đồng thời bị cáo đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật, cho nên rất ăn năn hối cải và mong Hội đồng xét xử xem xét để được hưởng chính sách khoan hồng của Pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ Luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật.

Về hành vi phạm tội, tội danh: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ quá trình thực hiện hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng đã truy tố và lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, vật chứng bị thu giữ, kết luận giám định cũng như các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Mặc dù biết rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm, nhưng vì lệ thuộc vào các chất gây nghiện Lê Quyết T đã mua 06 viên ma túy có khối lượng 0,608 gam chất Methamphetamine với giá 500.000 đồng của một đối tượng không quen biết để mang về sử dụng thì bị bắt giữ quả tang.

Xét thấy hành vi tàng trữ khối lượng chất Methamphetamine như trên của bị cáo của bị cáo là nguy hiểm, không những trực tiếp xâm phạm các quy định của Nhà nước trong độc quyền quản lý đối với các chất ma túy và bị pháp luật hình sự nghiêm cấm và thỏa mãn các yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ Luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát và bản luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa đề nghị truy tố và xét xử bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là hoàn toàn có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo là người đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và có đủ nhận thức về pháp luật, am hiểu đời sống xã hội nhất định. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và trong quá trình giải quyết vụ án luôn có thái độ thành khẩn trong khai báo, thể hiện rõ sự ăn năn hối cải. Vì vậy, bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần về hình phạt.

Về hình phạt: Căn cứ vào nhân thân, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo được hưởng, thấy rằng cần áp dụng hình phạt đủ nghiêm, tương xứng với tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội bị cáo đã thực hiện; cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong một thời gian nhất định mới có đủ tác dụng giáo dục, răn đe đối với bị cáo, đồng thời đáp ứng được công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm ma túy ngày càng có chiều hướng gia tăng.

- Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại Khoản 5 Điều 249 Bộ Luật hình sự thì “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng....”. Nhưng xét thấy bị cáo là lao động tự do nên không có nguồn thu nhập ổn định, cho nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Xét thấy quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã xử lý trả lại tài sản không liên quan đến hành vi phạm phạm tội cho chủ sở hữu là có căn cứ nên không xem xét gì thêm. Đối với khối lượng ma túy hoàn lại sau giám định là chất cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Trong vụ án này còn có đối tượng bán ma túy cho bị cáo, nhưng quá trình điều tra không xác định được danh tính, địa chỉ. Vì vậy, đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bố Trạch tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với đối tượng này khi có đủ căn cứ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm a khoản 2 Điều 106 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, tuyên xử:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Quyết T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lê Quyết T 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (17/9/2021).

Tiếp tục tạm giam bị cáo Lê Quyết T với thời hạn 45 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (29/11/2021) theo quyết định tạm giam của Hội đồng xét xử để đảm bảo thi hành án.

- Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy 01 bì thư dán kín được đóng dấu niêm phong có số: 1134/GĐ-PC09 ngày 22/9/2021 của Phòng kỷ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình, bên trong có chứa khối lượng Methamphetamine hoàn lại sau giám định.

Vật chứng nêu trên, có số lượng, đặc điểm được mô tả chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 29/11/2021 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bố Trạch và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bố Trạch.

4. Về án phí: Buộc bị cáo Lê Quyết T phải chịu nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung công quỹ Nhà nước.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (29/11/2021)./.

Cỡ chữ